Chương 1 đưa ra những nét khái quát nhất của đề tài bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu của đề tài. Chương 2: Những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về nội dung hàm chứa thông tin của chính sách cổ tức. Phần đầu chương này sẽ trình bày lý thuyết nội dung hàm chứa thông tin của chính sách cổ tức. Sau đó, bài nghiên cứu sẽ giới thiệu các bằng chứng về nội dung hàm chứa thông tin của chính sách cổ tức đã được các nhà nghiên cứu tìm ra cùng với các tranh luận quanh vấn đề này.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày phương pháp và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các biến sử dụng trong bài nghiên cứu. Chương 4: Nội dung hàm chứa thông tin của chính sách cổ tức bằng chứng từ thị trường Việt Nam. Chương này sẽ trình bày và thảo luận các kết quả từ thống kê mô tả và các phương trình hồi quy thay đổi khả năng sinh lợi theo các khía cạnh của chính sách cổ tức.
Cuối chương này tác giả sẽ xem xét phản ứng của nhà đầu tư với các biến động cổ tức. Chương 5: Kết luận. Ở chương này, tác giả tổng kết lại vấn đề nghiên cứu và các hạn chế của bài nghiên cứu. ~6~ CHƯƠNG 2 – NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ NỘI DUNG HÀM CHỨA THÔNG TIN CỦA CHÍNH SÁCH CỔ TỨC Lintner được xem là người đầu tiên thực hiện nghiên cứu về chính sách cổ tức.
Năm 1956, ông công bố kết quả khảo sát quan điểm của nhà quản lý tại Hoa Kỳ về chính sách cổ tức. Ông nhận thấy hầu hết các nhà quản lý đều tin rằng cổ đông thường có xu hướng thích cổ tức ổn định, vì sự ổn định trong chính sách cổ tức phản ánh triển vọng tăng trưởng ổn định của công ty. Kết quả khảo sát cũng cho thấy các nhà quản lý không muốn phải cắt giảm cổ tức. Do vậy, để tránh phải cắt giảm cổ tức khi khả năng sinh lợi suy giảm đột ngột, trong ngắn hạn khả năng sinh lợi của công ty có thể tăng cao nhưng các công ty lại cho tăng cổ tức từ từ để đạt tới một tỷ lệ cổ tức mục tiêu.
Đến năm 1961, Merton Miller và Franco Modigliani (MM) đã công bố lý thuyết về chính sách cổ tức. Theo hai ông, trong một thị trường vốn hoàn hảo không có thuế, không có chi phí giao dịch, không có chi phí phát hành, không có sự khác biệt về thuế giữa cổ tức và lãi vốn, không có bất cân xứng thông tin thì chính sách cổ tức không hề tác động đến giá trị doanh nghiệp. Sau MM, các lý thuyết khác đều tập trung vào việc giải quyết các bất hoàn hảo của thị trường. Nhìn chung các lý thuyết này đều ủng hộ quan điểm rằng chính sách cổ tức có tác động đến giá trị doanh nghiệp.
Vấn đề còn gây nhiều tranh luận là ảnh hưởng như thế nào? Một trong những lý thuyết ra đời sau MM là tác động tín hiệu của chính sách cổ tức. Theo lý thuyết này, chính sách cổ tức ảnh hưởng tới giá trị doanh nghiệp thông qua các phản ứng của nhà đầu tư tới giá cổ phiếu. Một công bố cổ tức của doanh nghiệp hàm chứa tín hiệu của nhà quản lý cho nhà đầu tư, cụ thể là những đánh giá của ban quản lý về khả năng sinh lợi, thu nhập và tỷ lệ tăng trưởng tương lai của công ty. Khi công ty tăng cổ tức thường có hàm ý rằng nhà quản lý lạc quan về khả năng sinh lợi trong tương lai; ngược lại, khi giảm cổ tức nhà quản lý thường đánh ~7~ giá khả năng sinh lợi sẽ suy giảm.
Cuối cùng, các nhà đầu tư có thể sử dụng thông tin hàm chứa trong các thông báo cổ tức để định giá cổ phiếu của công ty. Ví dụ, nếu bây giờ, công ty tuyên bố sẽ tăng tỉ lệ trả cổ tức các nhà đầu tư sẽ xem đây như là một thông điệp là ban quản trị công ty tự tin là hoạt động kinh doanh của công ty trong tương lai sẽ tạo đủ khả năng tiền mặt để công ty có thể tiếp tục duy trì việc trả cổ tức ở mức vừa mới ban bố. Trong tương lai gần, hành động này sẽ truyền thông tin cho các nhà đầu tư là công ty sẽ phát triển phồn vinh. Với suy diễn như thế, giá cổ phiếu của công ty sẽ tăng.
Đặc biệt, là ở những nước thị trường chứng khoán mới phát triển như Việt Nam, do thông tin bất cân xứng nên nhà đầu tư thường dựa vào mức chi trả cổ tức như là “tín hiệu” cho thấy triển vọng của công ty trong tương lai. Công ty trả cổ tức cao thường được nhà đầu tư suy diễn đồng nghĩa với triển vọng tốt và ngược lại. Do vậy, ở Việt Nam chính sách cổ tức càng có tác động đến giá trị cổ phiếu. Theo khảo sát của H.
Kent Baker và Gary E. Powell (1999) quan điểm của các nhà quản lý ở 198 công ty cổ phần ở Mỹ, nhìn chung những người trả lời đồng tình rất cao tín hiệu của chính sách cổ tức. Khảo sát của Brav et al. (2005) cũng cho kết quả tương tự.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu gần đây bổ sung rằng, cổ tức có hàm chứa nội dung thông tin ngay cả khi cổ tức không được sử dụng như một tín hiệu của nhà quản trị (Miller and Rock ,1985). Bởi vì cổ tức cung cấp nội dung hàm chứa thông tin thông qua việc xác định nguồn và sử dụng nguồn tiền như thế nào (Allen and Michaely ,2003). Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây cũng đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy chính sách cổ tức có hàm chứa thông tin về khả năng sinh lợi của công ty. Helay và Palepu (1988) đã thực hiện nghiên cứu trên 131 công ty thực hiện trả cổ tức lần đầu tiên hoặc lần đầu sau 10 năm không chi trả cổ tức từ năm 1969 tới năm 1980 tại Hoa Kỳ nhận thấy các doanh nghiệp này đều có khả năng sinh lợi tăng vào các năm ~8~ sau.
Kết luận này cho thấy hoạt động chia cổ tức lần đầu tiên hoặc lần đầu sau 10 năm không chi trả cổ tức có hàm chứa thông tin về thay đổi khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Helay và Palepu cũng thực hiện nghiên cứu với 172 công ty không thực hiện chia cổ tức nhận thấy khả năng sinh lợi chỉ suy giảm trong năm không chia cổ tức nhưng tăng lên mạnh trong những năm sau đó.Ansness và Robert D.Arnott (2001) sử dụng phương pháp hồi quy với mẫu dữ liệu là các công ty trong S&P từ năm 1926 tới năm 2001. Các tác giả tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ về mối quan hệ giữa suy giảm cổ tức và sự suy giảm khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Điều này cho thấy với các công ty suy giảm cổ tức, đây là lựa chọn bắt buộc của nhà quản trị để đối phó với sự suy yếu của dòng tiền trong các năm sau.
Khảo sát của Brav et al. (2005) tìm thấy các bằng chứng khác ủng hộ quan điểm này; theo kết quả khảo sát các nhà quản trị luôn tránh cắt giảm cổ tức. Skinner và Eugene Soltes (2009) thực hiện nghiên cứu với các công ty tại Hoa Kỳ trong vòng 30 năm nhận thấy các doanh nghiệp thực hiện chi trả cổ tức ít khi lỗ hơn so với các doanh nghiệp không chi trả cổ tức. Các tác giả cũng phát hiện rằng, dù thua lỗ các công ty chi trả cổ tức cũng ít dùng “các khoản mục đặc biệt”1 để điều chỉnh thu nhập hơn.
Jensen et al. (2010) thực hiện nghiên cứu với các công ty giảm cổ tức phát hiện rằng khi thực hiện giảm cổ tức thì hiệu quả hoạt động của công ty cũng giảm so đối với các đối thủ cạnh tranh trong thời gian hai năm trước khi giảm cổ tức cho đến ba năm sau khi giảm cổ tức. Đồng thời nghiên cứu cho thấy các công ty giảm cổ tức có xu hướng giảm đáng kể chi phí sử dụng vốn, chi phí nghiên cứu và số lượng 1 Theo Douglas J. Skinner và Eugene Soltes các khoản mục đặc biệt được tạo ra do sự can thiệp của nhà quản lý để điều chỉnh kết quả hoạt động kinh doanh theo mong muốn.
Ông nhận xét rằng khi giảm cổ tức công ty đã đạt đến một “phương án cuối cùng” phải thực hiện. Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu khác kết luận rằng chính sách cổ tức không hàm chứa thông tin về thay đổi khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Harry DeAngelo và các cộng sự (1996) nghiên cứu trên 145 công ty trên thị trường chứng khoán New York đã không tìm thấy mối liên hệ giữa thay đổi cổ tức và thay đổi khả năng sinh lợi của các công ty trong mẫu. Nghiên cứu của Benartzi et al.
(1997) cũng không tìm thấy bằng chứng cho nội dung hàm chứa thông tin của chính sách cổ tức với mẫu nghiên cứu là các công ty tăng cổ tức trên thị trường chứng khoán NewYork từ năm 1979 -1991. Các tác giả nhận thấy hiện tượng tăng cổ tức không có bất kỳ mối tương quan nào với thay đổi khả năng sinh lợi. Gustavo và các đồng sự (2003) sử dụng dữ liệu của các doanh nghiệp trên 2 sàn chứng khóa NTSE và AMEX thông qua phương trình phi tuyến cũng kết luận rằng thay đổi cổ tức không hề hàm chứa bất kỳ thông tin gì về thay đổi khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Với những tranh luận này, Dhillon và cộng sự (2003) cho rằng các nghiên cứu trước đây chưa giải quyết được vấn đề bởi vì xác định sai “thay đổi cổ tức”, các tác giả này sử dụng dữ liệu cổ tức dự báo từ Value Line Invesment Survey để tính toán thay đổi cổ tức.
Với bộ dữ liệu gồm 1.700 doanh nghiệp từ năm 1994 tới năm 1996, các tác giả này đã tìm thấy mối tương quan tích cực giữa thay đổi cổ tức và lợi nhuận của doanh nghiệp. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng phát hiện ra rằng khi cổ tức không thay đổi, mặc dù đã công bố sẽ thay đổi trước đó, cũng hàm chứa nội dung thông tin. Tuy đã thành công trong việc chứng minh sự thay đổi cổ tức có nội dung hàm chứa thông tin nhưng việc ứng dụng nghiên cứu trên vào thực tiễn gặp nhiều khó khăn. ~ 10 ~ Quan trọng nhất, không phải bất kỳ thị trường chứng khoán nào cũng có đủ thông tin về cổ tức dự kiến cho các nhà đầu tư, thị trường Việt Nam chẳng hạn.