MỞ ĐẦU 1. Việt Nam với ¾ diện tích tự nhiên là vùng đồi núi, chịu sự ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Chính điều kiện khí hậu và địa hình như vậy đã tạo nên cho đất nước chúng ta một hệ thực vật rừng phong phú và đa dạng, có nhiều loại gỗ và lâm đặc sản có giá trị cao, trong đó có các loài cây dược liệu. Dược liệu khác với cây cỏ bình thường ở chỗ nó được dùng làm thuốc.
Với định nghĩa này một cây thuốc có hai yếu tố cấu thành đó là bản thân cây cỏ, là nguồn gen hay yếu tố vật thể và tri thức sử dụng cây cỏ đó để chữa bệnh, là yếu tố phi vật thể [16]. Cũng như hầu hết các nước có nền văn hóa phương Đông, xu hướng sử dụng dược phẩm có nguồn gốc thiên nhiên và được sản xuất trong nước ở Việt Nam ngày càng tăng. Điều đó làm cho vị thế của cây thuốc Nam trong tương lai sẽ được nâng cao, có nghĩa là lợi ích mà chúng mang lại cho người nông dân sẽ lớn hơn. Tuy nhiên, cũng vì lẽ đó mà trên thực tế việc khai thác không bền vững nguồn tài nguyên thuốc Nam sẽ làm cho đa dạng sinh học bị suy thoái và thế hệ tương lai không còn hưởng lợi từ các nguồn tài nguyên này.
Chính vì vậy, cần phải có những giải pháp vừa đảm bảo phát triển được nguồn tài nguyên cây thuốc Nam tự nhiên, vừa có được lợi nhuận từ các sản phẩm mà chúng mang lại không phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu khai thác từ tự nhiên. Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) được biết đến như một loại thảo dược quý hiếm có nhiều tác dụng đối với y học. Theo Đông y, thân rễ của Sâm cau có thể trị sốt xuất huyết, chữa tê thấp, đau mình mẩy, chữa liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng, chữa cao huyết áp (tiền mãn kinh), bồi bổ tráng dương, trị nam tinh lạnh, nữ lạnh tử cung, chữa phong thấp, lưng lạnh đau, thần kinh suy nhược,. h 2 Ở Việt Nam cây Sâm cau được biết đến với tên thuốc là Rhizoma Curculiginis, Đông y gọi là Tiên mao và cho rằng có vị cay, tính ấm, hơi có độc, có tính chống ung thư, bổ thận tráng dương, ôn trung táo thấp, tán ứ, trừ tê, tráng gân cốt.
Chủ trị tinh lạnh, liệt dương, đái đục ở nữ, bạch đới, người già đái són, lạnh da; thần kinh suy nhược, phong thấp, lưng gối lạnh đau, vận động khó khăn. Cây sống lâu năm cao khoảng 30cm hoặc hơn, lá hình mũi mác xếp nếp tựa như lá cau nên gọi là Sâm cau. Phiến lá thon hẹp, hai mặt lá nhẵn gần như cùng màu, gân song song, dài 40cm, rộng 2 - 3,5 cm, cuống dài 10 cm. Thân rễ hình trụ cao, dạng củ, to bằng ngón tay út, có rễ phụ nhỏ, vỏ thô màu nâu, trong nạc màu vàng ngà.
Rễ có thể thu hái được quanh năm nên có thể thuận lợi cho việc nghiên cứu nhân giống từ rễ thay vì phải chờ đến mùa thu hái của hạt (tháng 5 – 7). Nằm trong vùng phân bố của loài, Việt Nam được ghi nhận là có phân bố của Sâm cau, tuy nhiên cho đến nay các nghiên cứu về loài cây này còn rất hạn chế. Một số thử nghiệm gần đây của Trường Đại học Nông Lâm Huế cho thấy Sâm cau có biên độ sinh thái khá rộng và có triển vọng gây trồng trên các vùng đất kém thuận lợi, kể cả đất cát nội đồng. Tuy nhiên hoạt động này mới dừng lại ở mức độ thăm dò, chưa có kết luận đủ tin cậy để triển khai mở rộng sản xuất.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của cây Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn ) tại vườn ươm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được chế độ bón phân phù hợp nhất đến sinh trưởng của cây Sâm cau trong giai đoạn vườn ươm, từ đó làm cơ sở khoa học cho công tác làm và nhân rộng giống cây dược liệu quý. Ý nghĩa của việc nghiên cứu 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Là tài liệu trong học tập cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan.
h 3 - Giúp cho sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn. - Nắm được phương pháp nghiên cứu. Ý nghĩa trong thực tiễn - Xác định được sự sinh trưởng, phát triển của loài cây Sâm cau trong các điều kiện bón phân khác nhau. - Đề xuất một số giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế phù hợp với điều kiện thực tế.
- Nâng cao kiến thức thực tế, sự hiểu biết của bản thân để phục vụ cho công tác sau khi ra trường. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Từ ngày xưa ông cha ta đã đúc kết “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” hay “Người đẹp vì lụa lúa tốt vì phân” để thấy được vai trò quan trọng của phân bón trong canh tác nông, lâm nghiệp và sự phát triển cân đối, ổn định. Phân bón cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng của cây trồng.
Sử dụng phân bón cân đối hợp lý sẽ thúc đẩy các quá trình sinh trưởng của cây, đẻ nhánh, cành lá phát triển, thúc đẩy cây ra hoa nhiều và đồng loạt, tỷ lệ đậu quả cao. Tạo điều kiện rễ phát triển, rễ ăn sâu, rộng gíup hạn chế đổ ngã. Tăng sức đề kháng và khả năng chống chịu của cây trồng. Ngoài việc cung cấp các dưỡng chất cần thiết, phân bón còn tác động đến toàn bộ hệ sinh thái nông, lâm nghiệp, thúc đẩy các quá trình như phân hủy, chuyển hóa các chất,…tăng khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng, phân giải các chất khó hấp thụ thành các chất dễ hấp thụ, tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển khỏe mạnh.
Nếu thiếu hụt phân bón cây trồng sẽ không phát triển hay phát triển kém, cây còi cọc, khả năng đẻ nhánh thấp, cành lá ra ít, lá nhỏ, lá vàng, không ra hoa hoặc ra hoa ít, tỷ lệ đậu quả thấp, bộ rễ kém phát triển, dễ bị sâu bệnh tấn công, khả năng chống chịu kém đối với các yếu tố bất lợi. Theo FAO (1994), các loài phân hóa học được sử dụng chăm sóc cây con trong thời gian ngắn. Bón phân này cần kết hợp với các biện pháp lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh phải thường xuyên phát huy tối đa hiệu lực của phân bón [31]. Tài nguyên cây dược liệu trên Thế giới 2.
Lịch sử nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới Sự kết hợp giữa con người và động vật với thực vật rõ ràng có nguồn gốc từ sự khởi đầu của sự sống trên trái đất khi cây cỏ cung cấp nhiều nơi trú h 5 ẩn, oxy, thức ăn và thuốc men cần thiết cho các dạng sống cao hơn. Ở giai đoạn khởi đầu của xã hội, con người đã giành hết thời gian để học cách nhận biết và phân loại thực vật phù hợp để sử dụng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Trong số những thứ cần thiết này, việc sử dụng thảo mộc và chiết xuất từ thảo dược cho khả năng chữa bệnh của chúng có thể được truy nguồn từ huyền thoại, truyền thống và các bài viết được sử dụng để mã hoá các cây trồng có thể giảm đau và điều trị bệnh. Sự phát triển của các hệ thống y tế trên cơ sở cây trồng, chủ yếu dựa trên thực vật trong một khu vực địa phương, đã tạo ra các hệ thống y học cổ truyền nổi tiếng, Ayurvedic và Unani của tiểu lục địa Ấn Độ, Trung Quốc và Tây Tạng của các khu vực khác của Trâu Á, Bắc Mỹ, Amazonian ở Nam Mỹ và một số hệ thống địa phương ở Châu Phi.
Năm 2838 Trước công nguyên, Thần Nông đã biên soạn cuốn sách “Thần nông bản thảo”. Cuốn sách có ghi chép về 364 vị thuốc và cách sử dụng. Đây là cuốn sách nền tảng cho sự phát triển của nghành y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay [2]. Năm 1595, Lý Thời Trân đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây thuốc, kinh nghiệm sử dụng và soạn ra cuốn “Bản thảo cương mục”.
Đây là cuốn sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực dược liệu, mô tả 1094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ [2]. Năm 348 – 322 Trước công nguyên, Aristote người Hy Lạp đã có những ghi chép về cây cỏ của Hy Lạp. Sau đó năm 340 Theophrate với tác phẩm “Lịch sử vạn vật” đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng của chúng. Tuy tác phẩm chỉ mới dừng lại ở mô tả các đặc điểm của cây cỏ, nhưng nó đã đặt nền tảng cho các khoa học nghiên cứu về thực vật sau này [27].
Tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 1985 [1], trong tổng số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng 20.000 h 6 loài được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau. Trong đó, Ấn Độ được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc. Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [30], đã có tài liệu hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Guidelines on good agricultural and collection practices for medicinal plants). Tài liệu đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể từ chọn cây thuốc, chọn vùng trồng trọt thích hợp, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch.
Đây là một hướng dẫn và là thước đo chất lượng sản phẩm dược liệu khi trở thành sản phẩm hàng hóa trên Thế giới. Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước đã dựa trên tài liệu hướng dẫn này để xây dựng khung quy định cho sản xuất cây dược liệu, nhằm đưa cây dược liệu và các sản phẩm dược liệu trở thành sản phẩm hàng hóa trên toàn Thế giới. Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đã đẩy mạnh việc nghiên cứu các chế phẩm mới từ cây thuốc. Ở Mỹ, 25% các đơn thuốc được pha chế tại các cửa hàng dược gồm các chất chiết từ cây cỏ, 13% từ các loài vi sinh và 3% từ động vật với nhu cầu hàng tỷ USD/năm [15].