Đặt vấn đề Trong ngành sản xuất nông nghiệp, ngành chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng. Nó cung cấp phần lớn lượng thịt cho tiêu dùng và phân bón cho ngành trồng trọt. Ngày nay, cùng với xu thế phát triển mạnh của nền kinh tế người nông dân đang mong muốn tìm lại những giống vật nuôi địa phương, những giống vật nuôi hoang dã để tạo ra các sản phẩm thịt chất lượng cao. Trong đó, các giống lợn địa phương, lợn rừng cũng được quan tâm nhiều do phương thức chăn thả tự do, nhiều nạc, ngon thịt, phù hợp với khẩu vị của người việt Nam, đang rất được ưa chuộng và trở thành “Đặc sản’’ có giá trị trên thị trường.
Ngoài ra, đây là những giống lợn chịu đựng kham khổ và thích ứng rất tốt với tập quán chăn nuôi ở khu vực miền núi. Đồng thời cũng đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi có điều kiện về đất đai và khả năng tự sản xuất thức ăn xanh. Mặc dù vậy, những giống lợn địa này có nhược điểm sinh trưởng chậm, một số có ngoại hình xấu, hơi nhiều mỡ vì vậy việc nghiên cứu và cho lai với lợn rừng để tạo ra con lai có năng suất và chất lượng thịt cao hơn đảm bảo đáp ứng nhu cầu của xã hội (Võ Văn Sự, 2009) [21]. Một khó khăn đặt ra trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản là tỷ lệ tiêu chảy của lợn con trong giai đoạn theo mẹ khá cao, dẫn đến lợn con bị còi cọc, chậm lớn, tỷ lệ nuôi sống thấp, khối lượng lúc cai sữa không cao.
Đây là một thách thức trong chăn nuôi lợn rừng, mà nguyên nhân có thể do chế độ nuôi dưỡng lợn mẹ gây ra. Dinh dưỡng cho lợn mẹ trong thời kỳ nuôi con bú sữa ảnh hưởng đến chất lượng sữa, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa của lợn con. Khi lợn con không tiêu hóa hết lượng sữa mẹ, lượng sữa thừa này sẽ ôi thiu trong đường tiêu hóa, tạo điều kiện bùng phát các loại vi khuẩn bất lợi n 2 sống trong đường tiêu hóa, làm cho lợn con bị tiêu chảy. Nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ làm cho bệnh ngày càng trầm trọng thêm và lợn con có thể chết.
Xuất phát từ vấn đề đó, em đã tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Ảnh hưởng của chế độ ăn cho lợn rừng nái F1(Đực rừng x nái Địa phương) đến sinh trưởng của lợn con theo mẹ”. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được chế độ ăn hợp lý cho lợn nái rừng giai đoạn nuôi con để cải thiện sinh trưởng của lợn con, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn rừng. - Rèn luyện được tay nghề sau khi đã học xong lý thuyết. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa khoa học: Xác định được ảnh hưởng của chế độ ăn cho lợn nái rừng giai đoạn nuôi con đến sinh trưởng, tỷ lệ mắc bệnh đường tiêu hóa của lợn con.
Ý nghĩa thực tiễn: Tìm ra chế độ ăn hợp lý cho lợn nái giai đoạn nuôi con để ứng dụng trong chăn nuôi lợn nái rừng sinh sản, góp phần thúc đẩy phát triển chăn nuôi lợn rừng tại khu vực miền núi. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Thông tin về lợn rừng và chăn nuôi lợn rừng ở Việt Nam Lợn rừng Việt Nam được nuôi ở rất nhiều ở các vùng sinh thái khác nhau.
Kết quả điều tra trên 77 cơ sở chăn nuôi lợn rừng trên cả nước của Viện Chăn nuôi cho thấy, 61,1% cơ sở nuôi lợn rừng Thái Lan thuần, 38,9% cơ sở nuôi nhiều loại, gồm lợn rừng Thái Lan, Việt Nam, lợn bản địa và các loại lai. Có 6 cơ sở còn nuôi cả lợn rừng Việt Nam thuần. Lợn rừng Thái Lan được nhập về từ Thái Lan. Tuy nhiên ở miền Nam còn có lợn rừng Malaysia, được ông Châu Xuân Vũ (xã Phú Quới, Long Hồ, Vĩnh Long) nhập mấy chục con từ Malaysia năm 2006.
Đàn lợn này sau đã bị giải thể và bán đi tới nhiều địa điểm ở Vĩnh Long và Đồng Nai. Tại Đồng Nai, có sự phối giống lẫn lộn giữa các giống lợn, thậm chí số tai cũng không gắn, nên lợn Malaysia không chắc đã còn dạng thuần (Atlas các giống vật nuôi ở Việt Nam (2004) [1] Lợn rừng Việt Nam sống rất nhiều ở các vùng sinh thái khác nhau. Đến nay theo xuất xứ có 4 loại được nuôi: Lợn rừng Việt miền Bắc (được nuôi tại Ba Vì, Hà Nội); Lợn rừng Phú Yên (nuôi tại trang trại động vật quý hiếm Hòa Khánh - Khánh Hòa); Lợn rừng Cát Tiên (nuôi tại trang trại ông Chín - Cần Giuộc, Long An), ông Kỳ (Đồng Nai); Lợn rừng Bình Phước (nuôi tại trang trại ông Bảy Dũng - Bình Phước, ông này được xem là người khởi đầu nghề nuôi lợn rừng tại Việt Nam). Các loại lợn rừng vùng Đông Nam bộ, miền Bắc và Lào có thể là cùng một giống.
Đặc điểm sinh sinh lý sinh dục của lợn nái * Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục của lợn nái - Cấu tạo của cơ quan sinh dục của lợn nái bao gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung (cổ, thân, sừng tử cung), âm đạo và các cơ quan bên ngoài. n 4 + Buồn trứng: khác với dịch hoàn, buồng trứng nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp. Buồng trứng lợn nái có dạng chùm nho, khối lượng buồng trứng là 4-7g. Ở lợn trưởng thành, buồng trứng có 10-25 nang trứng thành thục, đường kính nang là 8-12mm, thể vàng thành thục có hình cầu hoặc hình trứng đường kính 5-10 mm.
Buồng trứng thực hiện hai chức năng: Ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh hormone sinh dục cái). + Ống dẫn trứng: được chia làm 4 giai đoạn: Tua diều, phễu, phồng ống dẫn trứng và eo. Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo một hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời. Phồng ống dẫn trứng là nơi xảy ra sự thụ tinh.
Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi nhất của các giao tử và cho sự phát triển ban đầu của phôi. + Tử cung: gồm có 2 sừng, một thân và một cổ tử cung. Tử cung lợn thuộc 2 loại sừng, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại và có độ dài đến hơn 1m. Độ dài này thích hợp cho việc mang thai nhiều ở lợn trưởng thành trung bình các sừng tử cung dài 40-45 cm, thân tử cung 5 cm, cổ tử cung dài 10 cm và có đường kính từ 2-3 cm.
Tử cung có nhiều chức năng, nội mạc tử cung và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sản xuất bao gồm các chức năng sau: vận chuyển tinh trùng, điều hòa chức năng của thể vàng, là nơi làm tổ của phôi, thực hiện các chức năng chửa đẻ. (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003 [11], Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) [17] + Âm đạo: có cấu tạo như một ống cơ có thành dầy, dài 10-20 cm. Đây là cơ quan giao cấu của lợn nái, là ống thải của dịch cổ tử cung, nội mạc tử cung và ống dẫn trứng, đồng thời cũng là đường cho thai ra ngoài khi đẻ. + Bộ phận sinh dục bên ngoài: là phần có thể sờ thấy và quan sát được, bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình.
n 5 Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì có biểu hiện về tính dục. Lợn nái khi thành thục về tính sẽ xuất hiện các triệu chứng động dục và kèm theo quá trình rụng trứng. Đồng thời lợn nái hậu bị vẫn tiếp tục sinh trưởng để thành thục về thể vóc. Tuy nhiên, trong giai đoạn xảy ra chu kì động dục lợn nái hậu bị thường bị giảm mức tăng trọng so với bình thường.
Chu kì động dục của lợn nái được chia thành 4 giai đoạn khác nhau: - Giai đoạn trước động dục: Lúc này buồng trứng của lợn nái bắt đầu có các noãn phát triển, đồng thời buồng trứng tăng cường tiết Oestrogen, bầu vú cũng dần phát triển. Giai đoạn này kéo dài từ 2-3 ngày. - Giai đoạn động dục: Buồng trứng có các noãn bao, bắt đầu chín và chuẩn bị rụng. Đồng thời kèm theo các triệu chứng bên ngoài như lợn bắt đầu kêu la, phá chuồng, bỏ ăn và đi tìm con đực.
Âm hộ dần dần sưng lên và xuất hiện màu cà chua chín và chuyển sang màu mận chín và lúc này trứng chín rụng xuống loa kèn. Lợn ở vào trạng thái mê ì. Thời gian này thường kéo dài từ 3-5 ngày. - Giai đoạn sau động dục: lợn bắt đầu trở lại bình thường, các triệu chứng động dục giảm dần và hết động dục.
Thời gian kéo dài từ 1-2 ngày. - Giai đoạn yên tĩnh: Đây là giai đoạn lợn chuẩn bị cho một chu kì tiếp theo. Thời gian khoảng từ 8-9 ngày. * Đặc điểm chu kỳ động dục Lợn nái khi thành thục về tính, chúng có chu kỳ động dục và mỗi chu kỳ trung bình là 21 ngày (biến động từ 18-25 ngày).
Chu kỳ của lợn nái phụ thuộc vào các yếu tố sau: - Ảnh hưởng của giống: Giống khác nhau có chu kỳ động dục khác nhau: Lợn Ỉ là từ 19-21 ngày, lợn Móng Cái từ 18-25 ngày. n 6 - Ảnh hưởng của tuổi: Nái tơ thì có chu kỳ tính thường ngắn hơn lợn nái trưởng thành. Khi theo dõi sinh sản trên lợn Ỉ thấy ở lứa thứ nhất chu kỳ tính là 19 ngày, lứa thứ 2 là 20 ngày, (Phạm Hữu Doanh và cs, 1996) [4]. - Ảnh hưởng của dinh dưỡng: Nếu dinh dưỡng tốt thì chu kỳ tính ổn định và ngược lại.
- Trong thời gian động dục lợn nái có sự rụng trứng, từ đó liên quan đến sự thụ thai, chửa và đẻ. Thời gian động dục chia làm 3 giai đoạn : + Giai đoạn 1: Từ khi bắt đầu động dục đến lúc chịu đực (T1), đây là giai đoạn các triệu chứng động dục bắt đầu xuất hiện, dưới tác động của các hocmone sinh dục cái, tế bào trứng phát triển và chuẩn bị chín và rụng. Lợn nái ở giai đoạn này thường hoạt động mạnh, tìm kiếm con đực, bỏ ăn phá chuồng kêu la. Giai đoạn này kéo dài từ 1-2 ngày.
+ Giai đoạn 2: Từ khi chịu đực đến lúc hết chịu đực (T2) + Giai đoạn 3: Từ khi hết chịu đực cho đến khi hết biểu hiện động dục (T3). Trên lợn Ỉ: T1= 58,25 h; T2 = 48,45 h ; T3 = 27,95 h, tổng cộng 136,41 h (khoảng 5,5 ngày). Từ đặc điểm động dục trên đây của lợn nái, chúng ta có thể xác định thời điểm phối tinh thích hợp cho chúng. Biểu hiện chu kì động dục ; khi động dục lợn nái biểu hiện không yên tĩnh.