Đặt vấn đề Cây hoa là sản phẩm không thể thiếu trong cuộc sống của con người, cây hoa vừa mang giá trị tinh thần vừa mang giá trí kinh tế to lớn. Từ xa xưa con người đã có nhu cầu sử dụng cây hoa để trang trí, làm thực phẩm. Ngày nay xã hội ngày càng phát triển đời sống con người đi lên thì nhu cầu sử dụng hoa ngày càng tăng. Chính vì vậy việc sản xuất hoa đã trở thành một ngành công nghiệp mang lại lợi nhuận lớn.
Tổng sản lượng hoa toàn cầu năm 2017 đạt 104.825 tỷ đô la Mỹ. Trong đó hoa Cúc là một trong năm loại hoa cắt cành phổ biến nhất trên thế giới. Cây hoa Cúc thu hút người tiêu dùng đặc biệt ở màu sắc phong phú: trắng, vàng, xanh, đỏ, tím, da cam. Không những vậy, hình dáng và kích cỡ hoa cũng rất đa dạng cùng với khả năng có thể điều khiển cho ra hoa tạo nguồn hoàng hóa quanh năm đã khiến cho hoa Cúc trở thành loài hoa được tiêu thụ đứng hàng đầu trên thị trường thế giới (sau hoa Hồng) (Đặng Ngọc Chi, 2006).
Không chỉ vậy hoa cúc ở Việt Nam được sử dụng rộng rãi vì hình dáng màu sắc đẹp mắt, độ bền mà còn do phong tục tập quán của người Việt, và cúc còn có thể làm dược liệu sử dụng vào các bài thuốc, sản xuất trà, thực phẩm chức năng và còn nhiều công dụng khác nên được người tiêu dùng rất ưa chuộm vì vậy nhu cầu về cúc luôn rất cao. Hiện nay tại Việt Nam cúc được trồng hầu khắp cả nước và có một số vùng chuyên canh như Đà Lạt, Hà Nội, Quang Ninh, trồng rất nhiều loại cúc nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và để đáp ứng thị yếu của người tiêu dùng, đặc biệt các giống cúc lùn rất được ưa chuộm để trồng làm cảnh hoặc trang trí nên nhu cầu về cây con khỏe, sạch bệnh, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện bất thuận của môi trường, giá thành cạnh tranh là rất cao. Tuy nhiên với cách thức nhân giống truyền thống như gieo hạt, giâm cành, lấy ngọn từ cây mẹ cho hệ số nhân giống không cao, chất lương cây con không đồng đều, khó kiểm soát chất lượng, thời gian sinh trưởng dài. Để khắc phục những nhược điểm đó người ta sử dụng phương pháp nuôi cấy in vitro dựa trên tính toàn năng của tế bào và các chất kích thích sinh trưởng để tạo ra số lượng rất lớn cây con khỏe sạch bệnh giúp giảm giá thành sản xuất.
Tuy nhiên dùng chất kích thích sinh trưởng như thế nào để giảm chi phí sản xuất xuống thấp nhất mà vẫn đảm bảo số cây tối ưu, cây khỏe thì vẫn là một vấn đề cần giải quyết. Vì vậy đề tài “Ảnh hưởng của một số chất kích thích trong nuôi cấy mô hoa cúc lùn Chrysanthemum × koreanum” là cấp thiết. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài Xác định được thành phần môi trường nuôi cấy phù hợp để nhân giống in vitrio hoa cúc Sọc lùn và cúc Vàng lùn (Chrysanthemum × koreanum) 1.
Yêu cầu của đề tài - Xác định được môi trường thích hợp cho cảm ứng hình thành callus từ thân cây trong bình nuôi cấy - Xác định được môi trường thích hợp để nhân nhanh callus - Xác định được môi trường thích hợp để tái sinh chồi từ callus - Xác định được môi trường thích hợp để phát triển chồi - Xác định được môi trường thích hợp để cảm ứng tạo rễ 2 PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây hoa cúc 2. Nguồn gốc Cây hoa cúc có tên khoa học là Chrysanthemum, được định nghĩa từ Chiysos (vàng) và themum (hoa) bởi Linnde năm 1973.
Hoa cúc có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước châu Âu Theo Zenhua, Shouhe hoa cúc được trồng ở Trung Quốc cách đây 3000 năm, có nguồn gốc từ một số loài hoang dại thuộc loại cúc (Dendranthema), trải qua quá trình trồng trọt, lai tạo và chọn lọc từ những biến dị để trở thành những giống cúc ngày nay. Các nhà khảo cổ học Trung Quốc đã chứng minh rằng từ đời Khổng Tử người ta đã dùng hoa cúc trong các lễ mừng thắng lợi và cây hoa cúc đã đi vào các tác phẩm hội họa, điêu khắc từ đó. Từ những năm 1930, việc trồng hoa cúc được coi trọng, được bảo hộ và đề cao, đến những năm 1980, hoa cúc được phát triển mạnh. Năm 1982, Trung Quốc đã tổ chức triển lãm hoa cúc đầu tiên ở Thượng Hải với hơn một nghìn giống cúc, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong việc trồng hoa cúc.
Các năm sau đó các nhà khoa học Trung Quốc đã thu thập mô tả chụp ảnh hàng nghìn màu giống và liếp tục tổ chức các cuộc triển lãm hoa cúc (Đặng Văn Đông, 2003). Ở Nhật Bản, cây hoa cúc được di thực từ Trung Quốc sang, nó được đánh giá rất cao, là một loại hoa quý (quốc hoa) thường được dùng trong các buổi lễ quan trọng và được mệnh danh là “Hoàng thất quốc hoa”. Năm 1889 Edsmit đã bắt đầu lai tạo thành công nhiều loại cúc và ông đặt tên cho hơn 100 giống cúc của các thế hệ sau đó, một số khác ngày nay vẫn còn duy trì và được trồng đến ngày nay (Đặng Văn Đông, 2004). Năm 1843, nhà thực vật học người Anh Fortune mang từ Trung Quốc giống cúc Chusan Daisy lai tạo ra các loại hình cầu và hình tán xạ ngày nay.
Năm 1789 nước Pháp nhập từ Trung Quốc 3 loại cúc đại đóa, đến năm 1927, Bemct đã thành công trong việc lai tạo ra giống cúc mới dẫn đến một sự cải tiến rất mạnh mẽ về giống cúc ở châu Âu (Đặng Văn Đông, 2004). Ở Mỹ, từ đầu thế kỷ XVIII hoa cúc đã được trong nhiều, đến năm 1860 hoa cúc trở thành hàng hoá và được trồng trong nhà lưới. Ở Việt nam hoa cúc được nhập vào từ thế kỷ XV, người Việt Nam coi hoa cúc là biểu tương của sự thanh cao, là một trong những loài hoa mộc được xếp vào hàng tứ quý “tùng, cúc, trúc, mai” hoặc “mai, lan, cúc, đào” (Trương Hữu Tuyên, 1979). Ngoài ra hoa cúc được ưa chuộm đến ngày nay không chỉ vì màu sắc và hình dáng đa dạng mà còn vì độ bền của hoa.
Đặc điểm hình thái Phân loại cây hoa cúc Hoa cúc là loại cây hai lá mầm (Dicotyledonace) thuộc phân lớp cúc (Asterydae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), phân họ giống hoa cúc (Asteroideae), chi Chrysanthemum (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1988). Họ cúc rất lớn, phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới, gồm 1000 chi và hơn 20.000 loài sống ở những môi trường sinh thái khác nhau. Rễ cây hoa cúc thuộc loại rễ chùm, rễ cây ít ăn sâu mà phát triển theo chiều ngang. Khối lượng bộ rễ lớn do sinh nhiều rễ phụ và lông hút, nên khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh.
Những rễ này mọc ở mấu của thân cây còn gọi là mắt, ở những phần sát trên mặt đất (Nguyễn Xuân Linh, 1998). Thân hoa cúc thuộc loại thân thảo, khả năng phân nhánh mạnh, chiều cao của cây phụ thuộc vào đặc tính giống, khi tác động chế độ ánh sáng. Chiều cao cây, mức độ phân cành, độ mềm hoặc cứng phụ thuộc rất lớn vào đặc tính di truyền của giống. Giống cúc cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc tính di truyền của giống.
Giống cúc thấp nhất chỉ cao 20 - 30cm, còn giống cúc cao nhất, có thể cao trên 3m. Các giống thấp, phân cành nhiều thích hợp trồng trong chậu, làm thảm hoa. Các giống thân dài, thường phân cành ít, thích hợp trồng trên nền đất hoặc trên nền giàn cao. Giống thân cao, ít cành thích hợp với việc trồng hoa cắt cành.
Giống phân cành nhiều, cành nhỏ và mềm thích hợp với việc tạo hình trồng trong chậu cảnh (Van Ruiten và cộng sự, 1984). Lá cúc chia thùy, có răng cưa to, sâu, mặt dưới lá bao phủ bởi một lớp lông tơ, mặt trên nhẵn, gân lá hình mạng lưới, mọc cách và thành vòng xoắn trên thân. Lá phẳng hoặc hơi nghiêng về phía trên hoặc hơi bị gấp. Trên một cành thì gần gốc nhỏ, càng lên phía trên lá càng to dần.
Kích thước lá thường thay đổi theo điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt. Cây sinh trưởng kém thì lá nhỏ, mỏng, cứng hơi chếch về phía trên, màu xanh nhạt không bóng hoặc hơi vàng. Đủ dinh dưỡng, cây sinh trưởng khoẻ, lá to và mềm, phiến lá dày, chóp lá hơi cong xuống, lá xanh thẫm và bóng. Lá hoa cúc thường sống được 70 - 90 ngày, hiệu suất quang hợp của lá mạnh nhất là ở lá thứ 4 tính từ đỉnh ngọn trở xuống.
Mỗi nách lá thường phát sinh một mầm nhánh (Cockshull, 1972). Hình dạng hoa cây họ cúc (Asteracea) rất đặc trưng bởi có cụm hoa đầu trạng. Cụm hoa đầu trạng rất điển hình là trục chính của cụm hoa phát triển rộng ra thành hình đĩa phẳng hoặc lồi, trên đó có các hoa không cuống sắp xếp xít nhau, phía ngoài cụm 4 hoa có các lá bắc xếp thành vòng, cả cụm hoa có dạng như một bông hoa (Đặng Văn Đông, 2005). Hoa cúc có thể lưỡng tính hoặc đơn tính.
Hoa có nhiều màu sắc và đường kính rất đa dạng, đường kính có thể từ 1. Hình dạng của hoa có thể là đơn hoặc kép, thường mọc nhiều hoa trên một cành, phát sinh từ những nách lá. Hoa cúc tuy là lưỡng tính nhưng thường không thể thụ phấn cùng hoa, nếu muốn lấy hạt giống thì phải tiến hành thụ phấn nhân tạo (Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến, 1988). Dựa vào hình dạng của hoa có thể chia làm hai dạng là: dạng hoa đơn và dạng hoa kép.
Quả cúc rất nhỏ, dài khoảng 2 - 3mm, rộng 0.5 mm, khối lượng nghìn hạt khoảng 1 g, có nhiều hình dạng khác nhau như hình kim, hình gậy, hình trứng, hình tròn dài…thẳng hoặc hơi cong, hai đầu cùng bằng, hoặc một đầu nhọn, trên mặt có 5 - 8 vết dọc nông, màu nâu nhạt hoặc đậm, vỏ quả mỏng (Đặng Văn Đông, 2005). Quả cúc dạng quả bế khô, hình trụ hơi dẹt, hạt có phôi thẳng và không có nội nhũ (Lê Kim Biên, 1984). Giá trị sử dụng Cúc là một trong Tứ Quý: Tùng, Cúc, Trúc, Mai, được coi là bốn loại cây cảnh quý của văn hóa phương Đông và mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Ở Trung Quốc, giống như nguồn gốc xuất xứ của nó, ý nghĩa của hoa cúc là biểu tượng của sự trường tồn, ngày nay, hình bông hoa cúc vẫn được đúc trên đồng xu 1 Nhân dân tệ.
Còn Nhật Bản, hoa cúc là biểu tượng của sự giàu có, cao sang, quyền quí. Đặc biệt, hoa cúc thường được in trên quốc huy, huy chương.