Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Chất lượng lợi nhuận là một trong những tiêu chí trọng tâm được sử dụng để phân tích, đánh giá tình hình tài chính và dự báo hiệu quả hoạt động tương lai của doanh nghiệp. Trong đó, tính ổn định của lợi nhuận (earnings persistence) được xem là thước đo đại diện quan trọng cho chất lượng lợi nhuận. Sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế (Book-Tax Differences - BTD) phản ánh các khác biệt giữa chuẩn mực kế toán và luật thuế, đồng thời chứa đựng thông tin về hành vi điều chỉnh lợi nhuận hoặc quản trị thuế của doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, trong giai đoạn 2009–2019, nền kinh tế có sự tăng trưởng về quy mô vốn hóa và số lượng công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, nhưng cũng đối mặt với nhiều biến động kinh tế vĩ mô. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) liên tục được sửa đổi với lộ trình cắt giảm thuế suất từ 25% (năm 2009) xuống 20% (từ năm 2016) nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng năng lực cạnh tranh. Song song đó, hệ thống kế toán Việt Nam đánh dấu bước chuyển biến quan trọng khi Thông tư số 200/2014/TT-BTC (Thông tư 200) được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 nhằm từng bước tiệm cận Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), tác động sâu rộng đến việc ghi nhận các chỉ tiêu lợi nhuận, dòng tiền, các khoản dồn tích và chi phí thuế.
Mặc dù BTD và tính ổn định của lợi nhuận đã được nghiên cứu rộng rãi tại các quốc gia phát triển, phần lớn các công trình trước đây chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa BTD với thành phần dồn tích mà chưa xem xét toàn diện đến thành phần dòng tiền. Tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, hiện tượng tránh thuế, sự biến động của chính sách thuế và tình trạng chênh lệch số liệu trước và sau kiểm toán diễn ra khá phổ biến, song các công trình thực nghiệm về tác động của BTD cũng như các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận qua các giai đoạn thay đổi chế độ kế toán vẫn còn thiếu vắng. Do đó, luận án tiến hành nghiên cứu thực nghiệm vấn đề này nhằm giải quyết các khoảng trống trên.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Kiểm tra và đo lường tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận; xác định ảnh hưởng của BTD cùng các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định này; đồng thời phân tích sự khác biệt về tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận dưới ảnh hưởng của BTD qua các giai đoạn áp dụng chế độ kế toán tại Việt Nam.
- Mục tiêu cụ thể:
- Thứ nhất, kiểm tra và đo lường tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận, so sánh tính ổn định này giữa giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019).
- Thứ hai, xác định và so sánh ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận giữa giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019).
- Thứ ba, xác định và so sánh ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận giữa giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019).
Câu hỏi nghiên cứu
- Câu 1: Tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận tại Việt Nam như thế nào? Tính ổn định này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019) có khác nhau không?
- Câu 2: BTD ảnh hưởng như thế nào đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận? Ảnh hưởng này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019) có khác nhau không?
- Câu 3: Các nguyên nhân gây ra BTD ảnh hưởng như thế nào đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận? Ảnh hưởng này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019) có khác nhau không?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tính ổn định của lợi nhuận, tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận (dòng tiền và dồn tích), BTD, và các nguyên nhân gây ra BTD tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu được thu thập trong khoảng thời gian 10 năm từ 2010 đến 2019, phân chia thành hai giai đoạn so sánh: giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019).
- Tiêu chí loại trừ mẫu:
- Các công ty có quá ít quan sát do mới niêm yết.
- Các công ty thuộc nhóm ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm do có các quy định hoạt động và chế độ kế toán đặc thù riêng biệt.
- Các công ty không thu thập đủ dữ liệu cần thiết trên báo cáo tài chính liên tục trong 3 năm.
- Các công ty không áp dụng Thông tư 200 sau năm 2014.
- Luận án không thu thập dữ liệu hai năm 2020 và 2021 nhằm tránh các tác động bất lợi ngoại cảnh từ đại dịch Covid-19 làm sai lệch các chỉ tiêu kế toán và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước trong và ngoài nước
| Hướng nghiên cứu |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Phát hiện chính trong tài liệu |
| Tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận |
- Ball và Brown (1969), Ball và Watts (1972) - Brooks và Buckmaster (1976), Sloan (1996) - Dechow (1994), Fairfield và cộng sự (2003b) - Nguyet (2017), Vinh và Huong (2019), Nhung và cộng sự (2020), Bùi Quang Hùng và cộng sự (2021) |
- Giai đoạn đầu xem lợi nhuận qua các năm là độc lập; các nghiên cứu sau này (Sloan, 1996) khẳng định lợi nhuận có tính ổn định. - Thành phần dòng tiền nhìn chung ổn định hơn thành phần dồn tích. - Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nhung và cộng sự (2020) chỉ ra lợi nhuận doanh nghiệp Việt Nam có mức ổn định thấp nhưng bị giới hạn do gộp chung dữ liệu hai chế độ kế toán (Quyết định 15 và Thông tư 200). |
| Ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận |
- Lev và Nissim (2004), Hanlon (2005) - Phillips và cộng sự (2003), Blaylock và cộng sự (2012) - Jackson (2015), Marques và cộng sự (2016) - Atwood và cộng sự (2010), Ayers và cộng sự (2010) - M. Minh và Nhu (2019), Lê Thị Bảo Như và cộng sự (2020) |
- Hai trường phái chính: Lev và Nissim (2004) cho rằng tổng BTD cung cấp thông tin lợi nhuận tương lai nhưng BTD tạm thời không liên quan; ngược lại, Hanlon (2005) chứng minh BTD tạm thời lớn làm giảm tính ổn định của lợi nhuận và dồn tích. - BTD lớn phản ánh sự can thiệp kế toán hoặc quản trị thuế. - Tại Việt Nam, nghiên cứu về BTD chủ yếu tiếp cận định tính hoặc phân tích mối quan hệ BTD với tính thận trọng kế toán, chưa lượng hóa ảnh hưởng tới tính ổn định của lợi nhuận. |
| Ảnh hưởng từ nguyên nhân gây ra BTD |
- Mills (1998), Healy và Wahlen (1999) - Desai và Dharmapala (2006), Wilson (2009) - Frank và cộng sự (2009), Blaylock và cộng sự (2012) - Khuong và cộng sự (2019), Ha và cộng sự (2021, 2022) |
- BTD phát sinh từ ba nguồn chính: điều chỉnh lợi nhuận (EM), tránh thuế (TAXAVOIDER), và sự khác biệt quy định kế toán - thuế (BASE). - Blaylock và cộng sự (2012) chỉ ra công ty có BTD dương lớn do tránh thuế có tính ổn định lợi nhuận cao hơn nhóm do điều chỉnh lợi nhuận. - Các công trình trong nước chưa phân tách các nguồn gốc gây ra BTD để xem xét tác động riêng biệt đến lợi nhuận và dòng tiền. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
- Thiếu cái nhìn toàn diện về tính ổn định của lợi nhuận qua các giai đoạn thay đổi chế độ kế toán: Chưa có công trình nào đánh giá toàn diện tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong 10 năm (2010–2019) đồng thời đặt trong bối cảnh so sánh trước và sau khi áp dụng Thông tư 200 tại Việt Nam.
- Thiếu vắng nghiên cứu ảnh hưởng đồng thời của BTD đến cả hai thành phần dồn tích và dòng tiền: Hầu hết các nghiên cứu quốc tế và trong nước chỉ tập trung vào thành phần dồn tích mà bỏ qua thành phần dòng tiền (dù đã được Hanlon (2005) gợi mở nhưng chưa kiểm định thực nghiệm sâu).
- Sự thiếu hụt nghiên cứu thực nghiệm tại các thị trường mới nổi: Nghiên cứu về BTD và chất lượng lợi nhuận chủ yếu thực hiện tại các nước phát triển có hệ thống pháp lý và thuế ổn định; dữ liệu thực nghiệm tại các nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam còn rất hạn chế.
- Chưa làm rõ tác động từ các nguyên nhân cụ thể gây ra BTD: Chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam phân loại BTD theo các nguồn gốc phát sinh (điều chỉnh lợi nhuận tăng, tránh thuế, và khác biệt quy định) để kiểm tra ảnh hưởng đa chiều của từng nhóm nguyên nhân đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần cấu thành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng
- Lợi nhuận kế toán: Xác định theo Chuẩn mực kế toán quốc tế số 12 (IAS 12), Chuẩn mực kế toán quốc tế số 01 (IAS 1) và Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 17 (VAS 17). Đây là khoản lãi hoặc lỗ của một kỳ kế toán trước khi trừ chi phí thuế TNDN, được đo lường bằng chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí phát sinh trong kỳ theo các nguyên tắc kế toán.
- Thu nhập chịu thuế: Xác định theo IAS 12 và quy định của luật thuế hiện hành (Plesko, 1999), là khoản thu nhập làm căn cứ để tính số thuế TNDN phải nộp hoặc thu hồi trong kỳ tính thuế.
- Chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế (BTD): Là phần chênh lệch phát sinh giữa lợi nhuận kế toán trước thuế và thu nhập chịu thuế, bao gồm chênh lệch tạm thời (phát sinh khi doanh thu/chi phí được ghi nhận ở các thời điểm khác nhau giữa kế toán và thuế) và chênh lệch vĩnh viễn (khoản thu nhập/chi phí được kế toán ghi nhận nhưng luật thuế không thừa nhận hoặc ngược lại).
- Tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần: Đo lường mức độ lặp lại của lợi nhuận hiện tại trong lợi nhuận tương lai. Lợi nhuận được cấu thành từ hai thành phần chính: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và tổng các khoản dồn tích (Sloan, 1996; Hanlon, 2005; Blaylock và cộng sự, 2012).
- Lý thuyết thể chế (Institutional Theory): Dựa trên luận điểm của Meyer và Rowan (1977), Guenther và Young (2000), Yoon (2008), lý giải hành vi của doanh nghiệp trong việc thích ứng với các quy định thể chế, chuẩn mực kế toán và sự can thiệp của chính sách thuế tại quốc gia sở tại, từ đó ảnh hưởng đến mức độ gắn kết giữa kế toán và thuế cũng như chất lượng thông tin công bố.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Dữ liệu bảng động (Dynamic Panel Data): Mô hình hồi quy bao gồm biến trễ của biến phụ thuộc để đo lường tính ổn định của lợi nhuận qua các năm. Dữ liệu bảng kết hợp giữa dữ liệu chuỗi thời gian (time-series) và dữ liệu chéo (cross-sectional), giúp kiểm soát tính không đồng nhất của các đơn vị quan sát và nâng cao độ tin cậy của ước lượng tham số (Hsiao, 2007).
- Kỹ thuật phân tích và ước lượng:
- Luận án thực hiện các kiểm định mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM), và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
- Sử dụng phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least Squares - FGLS) để khắc phục triệt để các khuyết tật của mô hình như hiện tượng phương sai thay đổi của sai số và tự tương quan thường gặp trong dữ liệu bảng kế toán.
- Phương pháp phân chia mẫu phụ (Subsamples):
- Kế thừa và mở rộng từ mô hình của Hanlon (2005) và Blaylock và cộng sự (2012).
- Phân chia mẫu BTD thành ba nhóm chính: Nhóm BTD mang giá trị dương lớn (Large Positive BTD - LPBTD), Nhóm BTD mang giá trị âm lớn (Large Negative BTD - LNBTD), và Nhóm BTD có giá trị nhỏ/trung bình.
- Từ nhóm LPBTD, tác giả tiếp tục phân tách thành các mẫu phụ đại diện cho các nguyên nhân gây ra BTD: nhóm điều chỉnh lợi nhuận tăng (Earnings Management - EM), nhóm tránh thuế (Tax Avoidance - TAXAVOIDER), và nhóm do khác biệt chuẩn mực kế toán và quy định thuế (BASE).
- Áp dụng các phương pháp đo lường mới đối với BTD và nhóm tránh thuế nhằm thích ứng với điều kiện thay đổi thuế suất thuế TNDN liên tục tại Việt Nam trong giai đoạn 2010–2019, đồng thời tiến hành các kiểm định độ vững để đảm bảo tính nhất quán của kết quả.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu
- Dữ liệu tài chính được thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán hàng năm của các công ty niêm yết phi tài chính trên hai sàn giao dịch chứng khoán HOSE và HNX trong giai đoạn 10 năm từ 2010 đến 2019.
- Dữ liệu văn bản pháp lý gồm các Luật Thuế TNDN, Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS), và các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính, trọng tâm là Quyết định 15/2006/QĐ-BTC và Thông tư 200/2014/TT-BTC.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu học thuật trong và ngoài nước thành ba dòng nghiên cứu chính: tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần (dòng tiền và dồn tích); ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận; và ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD (điều chỉnh lợi nhuận, tránh thuế, khác biệt thể chế) đến chất lượng lợi nhuận. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu quốc tế trước đây (Hanlon, 2005; Blaylock và cộng sự, 2012) tuy đã thiết lập nền tảng lý thuyết vững chắc nhưng chưa phân tích thực nghiệm đầy đủ đối với thành phần dòng tiền và chưa kiểm chứng tại các thị trường mới nổi có sự thay đổi lớn về chế độ kế toán. Tại Việt Nam, các nghiên cứu đa số dừng lại ở mức độ định tính, phân tích kỹ thuật ghi nhận kế toán hoặc nghiên cứu riêng lẻ về hành vi tránh thuế và quản trị lợi nhuận mà chưa kết nối trực tiếp BTD với tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần. Từ đó, chương 1 xác lập 4 khe hổng nghiên cứu làm tiền đề cho luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
Chương 2 trình bày khung lý thuyết nền tảng gồm IAS 1, IAS 12, VAS 17, lý thuyết thể chế và các mô hình kinh tế lượng tài chính kế toán. Tác giả phân tích chi tiết bản chất của lợi nhuận kế toán, thu nhập chịu thuế, cấu trúc của dòng tiền và dồn tích, các loại BTD (tạm thời, vĩnh viễn, dương lớn, âm lớn) và cơ chế hình thành BTD từ các hành vi quản trị (điều chỉnh lợi nhuận, lập kế hoạch tránh thuế). Trên cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu, chương 2 xây dựng hệ thống các giả thuyết nghiên cứu xoay quanh: (1) Tính ổn định của lợi nhuận, thành phần dòng tiền và thành phần dồn tích qua các giai đoạn; (2) Ảnh hưởng làm suy giảm tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần khi phát sinh BTD lớn; (3) Sự khác biệt về tính ổn định giữa các nhóm doanh nghiệp có BTD phát sinh từ điều chỉnh lợi nhuận tăng so với nhóm phát sinh từ tránh thuế trong bối cảnh trước và sau khi áp dụng Thông tư 200.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 xây dựng các phương trình hồi quy dữ liệu bảng động để kiểm định các giả thuyết đã đề ra. Mô hình toán học kế thừa từ Hanlon (2005) và Blaylock và cộng sự (2012), trong đó biến phụ thuộc là lợi nhuận kỳ tương lai ($t+1$), các biến giải thích gồm lợi nhuận hiện tại ($t$), dòng tiền hoạt động ($t$), các khoản dồn tích ($t$), biến tương tác với các biến giả đại diện cho các nhóm BTD (LPBTD, LNBTD) và các biến giả đại diện cho nguyên nhân gây ra BTD (EM, TAXAVOIDER, BASE). Chương 3 chi tiết hóa quy trình lọc mẫu nghiên cứu trên HOSE và HNX, phương pháp thu thập dữ liệu bảng 10 năm (2010–2019), kỹ thuật xử lý các biến đổi thuế suất trong giai đoạn nghiên cứu, cùng quy trình kiểm định ước lượng qua các bước POLS, FEM, REM và kỹ thuật FGLS xử lý phương sai sai số thay đổi và tự tương quan.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 công bố và thảo luận các kết quả ước lượng thực nghiệm thu được từ mô hình hồi quy FGLS:
- Tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần: Trong cả hai giai đoạn (trước và sau Thông tư 200), lợi nhuận kế toán và các thành phần (dòng tiền và dồn tích) của các công ty niêm yết đều thể hiện tính ổn định thống kê có ý nghĩa. Thành phần dòng tiền có mức độ ổn định cao hơn so với thành phần dồn tích.
- Ảnh hưởng của BTD: Khi doanh nghiệp áp dụng các chế độ kế toán khác nhau, tác động của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần có sự khác biệt rõ nét. Đặc biệt trong giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019), các công ty có BTD càng lớn (cả giá trị âm lớn LNBTD và dương lớn LPBTD) thì tính ổn định của lợi nhuận cũng như tính ổn định của các thành phần dòng tiền và dồn tích đều suy giảm rõ rệt so với nhóm có BTD nhỏ/trung bình.
- Ảnh hưởng từ các nguyên nhân gây ra BTD: Đối với nhóm công ty có chênh lệch dương lớn (LPBTD) trong giai đoạn áp dụng Thông tư 200, các công ty có BTD phát sinh do hành vi điều chỉnh lợi nhuận tăng (EM) có lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận ít ổn định hơn so với nhóm phát sinh do nguyên nhân khác. Ngược lại, các công ty có BTD phát sinh do hành vi tránh thuế (TAXAVOIDER) lại có lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận ổn định hơn so với nhóm công ty có BTD phát sinh từ các nguyên nhân khác.
- So sánh giữa hai giai đoạn: Sự chuyển đổi sang Thông tư 200 đã làm tăng mức độ phản ánh thông tin của BTD; thị trường và các số liệu kế toán thể hiện tính nhạy cảm và phân hóa chất lượng lợi nhuận rõ rệt hơn dưới chế độ kế toán mới.
Chương 5: Kết luận và các hàm ý quản trị
Chương 5 tổng kết toàn bộ các phát hiện cốt lõi của luận án, rút ra các kết luận khoa học có giá trị về mặt lý thuyết và thực tiễn. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hệ thống các hàm ý quản trị thiết thực dành cho ba nhóm đối tượng: các nhà đầu tư và chuyên gia phân tích tài chính; các nhà quản lý doanh nghiệp và kế toán trưởng; cùng các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách kế toán - thuế. Chương này cũng nêu rõ các giới hạn nghiên cứu không thể tránh khỏi và định hướng các chủ đề nghiên cứu mở rộng trong tương lai.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Củng cố bằng chứng thực nghiệm về tính ổn định của lợi nhuận tại thị trường mới nổi: Luận án cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm đầy đủ về tính ổn định của lợi nhuận kế toán, thành phần dòng tiền và thành phần dồn tích của các công ty niêm yết trong suốt giai đoạn 10 năm tại Việt Nam.
- Mở rộng lý thuyết về tác động của BTD đến thành phần dòng tiền: Khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước trên thế giới vốn chủ yếu tập trung vào thành phần dồn tích, luận án đã kiểm tra và chứng minh thực nghiệm ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của thành phần dòng tiền, từ đó hoàn thiện bức tranh đánh giá chất lượng lợi nhuận toàn diện.
- Phát triển phương pháp nhận diện và phân nhóm nguyên nhân BTD phù hợp với bối cảnh biến động thuế: Luận án cung cấp quy trình phân nhóm các công ty dựa trên ba nguyên nhân cốt lõi gây ra BTD (điều chỉnh lợi nhuận - EM, tránh thuế - TAXAVOIDER, và khác biệt quy định - BASE) được điều chỉnh thích ứng với đặc thù thay đổi thuế suất thuế TNDN tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra sự tác động trái chiều giữa nhóm điều chỉnh lợi nhuận và nhóm tránh thuế đối với tính ổn định của lợi nhuận.
- Làm rõ tác động của cải cách chế độ kế toán (Thông tư 200): Luận án là công trình so sánh thực nghiệm ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD giữa hai giai đoạn trước và sau khi áp dụng Thông tư 200, chứng minh vai trò của chế độ kế toán mới trong việc nâng cao tính minh bạch và giá trị phản ánh của các chỉ tiêu tài chính.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ kết quả nghiên cứu
- Đối với các nhà đầu tư và cổ đông: Cần theo dõi chặt chẽ quy mô và dấu của chỉ tiêu BTD khi phân tích báo cáo tài chính. Doanh nghiệp có BTD lớn (đặc biệt là BTD dương lớn phát sinh từ điều chỉnh lợi nhuận) báo hiệu chất lượng lợi nhuận thấp và tính ổn định kém trong tương lai. Nhà đầu tư không nên chỉ nhìn vào con số lợi nhuận ròng tổng thể mà cần bóc tách riêng biệt thành phần dòng tiền và dồn tích để dự báo chính xác hơn hiệu quả hoạt động tương lai.
- Đối với các nhà quản lý và kế toán trưởng doanh nghiệp: Cần nâng cao tính minh bạch trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính, tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc kế toán theo Thông tư 200 và hướng tới IFRS; nhận thức rõ việc lạm dụng các ước tính kế toán để điều chỉnh tăng lợi nhuận ngắn hạn sẽ làm suy giảm tính ổn định của lợi nhuận và gây mất niềm tin của thị trường trong dài hạn.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách:
- Cơ quan thuế cần sử dụng chỉ tiêu BTD như một công cụ cảnh báo rủi ro quan trọng để phát hiện hành vi tránh thuế hoặc gian lận số liệu kế toán.
- Bộ Tài chính cần tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý kế toán và thuế, thu hẹp các khoảng trống và sự thiếu đồng bộ không cần thiết giữa luật thuế TNDN và chuẩn mực kế toán, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ và tiệm cận đầy đủ với các chuẩn mực quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Về mẫu nghiên cứu: Luận án loại trừ các công ty thuộc khối ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm do đặc thù hoạt động và quy định kế toán riêng biệt; do đó kết quả nghiên cứu chưa mang tính đại diện cho toàn bộ các loại hình doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán.
- Về phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở năm 2019, chưa bao gồm giai đoạn 2020–2021 do tác giả chủ động loại trừ nhằm tránh các cú sốc bất thường từ đại dịch Covid-19 làm sai lệch số liệu.
- Về việc đo lường các nguyên nhân gây ra BTD: Việc phân loại nhóm điều chỉnh lợi nhuận và nhóm tránh thuế dựa trên các mô hình dồn tích và các ước tính thuế gián tiếp, vốn có thể vẫn chịu ảnh hưởng nhất định từ các sai số đo lường kế toán.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các giai đoạn phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19 và bổ sung dữ liệu khi Việt Nam triển khai áp dụng rộng rãi Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS).
- Nghiên cứu sâu hơn đối với từng nhóm ngành sản xuất - kinh doanh đặc thù hoặc xem xét các phương pháp đo lường BTD đa chiều khác kết hợp dữ liệu phi tài chính và quản trị công ty.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán - Tài chính: Là tài liệu tham khảo giá trị về mặt học thuật trong việc xây dựng mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng động, phương pháp phân tích BTD, kỹ thuật ước lượng FGLS, và quy trình phân tách các thành phần cấu thành lợi nhuận.
- Nhà đầu tư, chuyên viên phân tích chứng khoán và các tổ chức tín dụng: Cung cấp phương pháp luận và cơ sở dữ liệu thực nghiệm để nhận diện rủi ro điều chỉnh số liệu kế toán, đánh giá chất lượng lợi nhuận và nâng cao độ chính xác khi dự báo dòng tiền và lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp niêm yết.
- Kế toán trưởng, kiểm toán viên và ban quản trị doanh nghiệp: Giúp nhận thức rõ ảnh hưởng của các nghiệp vụ làm phát sinh BTD đến độ tin cậy của báo cáo tài chính và phản ứng của thị trường.
- Cơ quan quản lý thuế và nhà hoạch định chính sách kế toán thuộc Bộ Tài chính: Cung cấp cơ sở thực tiễn để đánh giá tác động của việc ban hành chính sách kế toán (Thông tư 200) và điều chỉnh thuế suất thuế TNDN đối với hành vi tuân thủ của doanh nghiệp.
Các nội dung đáng tham khảo
- Khung mô hình hồi quy kinh tế lượng phân tích BTD kế thừa từ Hanlon (2005) và Blaylock và cộng sự (2012) có hiệu chỉnh theo bối cảnh thị trường Việt Nam (trình bày tại Chương 3).
- Phương pháp luận phân chia và đo lường các nhóm mẫu phụ BTD (LPBTD, LNBTD, EM, TAXAVOIDER, BASE) (trình bày tại Chương 3).
- Bảng kết quả phân tích hồi quy FGLS so sánh chi tiết giữa hai giai đoạn trước và sau khi áp dụng Thông tư 200 (trình bày tại Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. BTD trong luận án được xác định như thế nào và bao gồm những nguyên nhân chủ yếu nào?
Trong luận án, BTD (Book-Tax Differences) được định nghĩa là sự chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán trước thuế và thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp. BTD phát sinh từ ba nguyên nhân chính: (1) Do hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý (Earnings Management - EM) nhằm thay đổi nhận thức của người sử dụng báo cáo tài chính; (2) Do hành vi tránh thuế (Tax Avoidance - TAXAVOIDER) nhằm giảm thiểu nghĩa vụ thuế TNDN thực tế phải nộp; và (3) Do sự khác biệt khách quan giữa các quy định của chuẩn mực kế toán và luật thuế TNDN (BASE).
2. Tại sao luận án lại chia giai đoạn nghiên cứu 2010–2019 thành hai mốc 2010–2014 và 2015–2019?
Việc phân chia mẫu nghiên cứu thành hai giai đoạn nhằm đánh giá tác động của sự thay đổi chế độ kế toán tại Việt Nam. Ngày 01/01/2015 là thời điểm Thông tư số 200/2014/TT-BTC chính thức có hiệu lực (thay thế Quyết định 15/2006/QĐ-BTC), đánh dấu bước chuyển biến quan trọng hướng tới các chuẩn mực quốc tế IFRS và làm thay đổi phương pháp xác định các chỉ tiêu lợi nhuận, dòng tiền, chi phí thuế và các khoản dồn tích trên báo cáo tài chính. Do đó, việc chia mốc so sánh giúp làm rõ ảnh hưởng của chế độ kế toán mới đến tính ổn định của lợi nhuận và mức độ phản ánh của BTD.
3. Trong nhóm BTD dương lớn (LPBTD), ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận (EM) khác gì so với hành vi tránh thuế (TAXAVOIDER)?
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại Chương 4 chỉ ra rằng:
- Các công ty có BTD dương lớn phát sinh từ hành vi điều chỉnh lợi nhuận tăng (EM) có lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận ít ổn định hơn so với các công ty có BTD phát sinh từ nguyên nhân khác, do các khoản dồn tích can thiệp chủ quan sẽ bị hoàn nhập trong tương lai.
- Ngược lại, các công ty có BTD dương lớn phát sinh từ hành vi tránh thuế (TAXAVOIDER) lại có lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận ổn định hơn so với nhóm còn lại, vì việc tiết kiệm chi phí thuế tạo ra dòng tiền thực tế hỗ trợ duy trì kết quả hoạt động kinh doanh.
4. Luận án sử dụng phương pháp kinh tế lượng nào để khắc phục các khuyết tật của dữ liệu bảng?
Luận án sử dụng phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least Squares - FGLS) trên nền tảng dữ liệu bảng động (Dynamic Panel Data). Kỹ thuật này cho phép khắc phục đồng thời hiện tượng phương sai thay đổi của sai số và hiện tượng tự tương quan giữa các quan sát qua thời gian, đảm bảo các hệ số ước lượng thu được có tính vững và độ tin cậy cao.
5. Vì sao các công ty tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và dữ liệu hai năm 2020–2021 bị loại khỏi mẫu nghiên cứu?
Các công ty ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm bị loại khỏi mẫu do chịu sự điều chỉnh của hệ thống quy định kế toán, chuẩn mực an toàn vốn và luật chuyên ngành riêng biệt, không tương thích với mô hình dồn tích tổng quát của các doanh nghiệp phi tài chính. Dữ liệu năm 2020 và 2021 bị loại trừ nhằm tránh các biến động bất thường và cú sốc kinh tế do đại dịch Covid-19 gây ra làm sai lệch tính quy luật của số liệu kế toán và lợi nhuận.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Bảo Như là công trình nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về ảnh hưởng của chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế (BTD) cùng các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010–2019. Bằng việc áp dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng động FGLS và phân tách mẫu phụ, tác giả đã chứng minh rằng dòng tiền có tính ổn định cao hơn dồn tích, BTD lớn làm suy giảm tính ổn định của lợi nhuận (đặc biệt trong giai đoạn áp dụng Thông tư 200), và nhóm doanh nghiệp tránh thuế có mức độ ổn định lợi nhuận cao hơn nhóm điều chỉnh tăng lợi nhuận. Công trình mang lại những đóng góp có giá trị về mặt học thuật và cung cấp nhiều hàm ý thực tiễn quan trọng cho các nhà đầu tư, nhà quản trị doanh nghiệp, kiểm toán viên và các cơ quan hoạch định chính sách kế toán - thuế tại Việt Nam.