Chương I: Giới thiệu chung về đô thị - Chương II: Các vấn đề liên quan tới đô thị hóa - Chương III: Kinh tế học đô thị - Chương IV: Dân số, lao động và việc làm đô thị - Chương V: Kinh tế đất đai và nhà ở đô thị - Chương VI: Kinh tế môi trường đô thị - Chương VII: Kinh tế giao thông đô thị - Chương VIII: Tài chính đô thị - Chương IX: Hoạch định chính sách quản lý phát triển đô thị 6 3. MỤC TIÊU GIÁO TRÌNH KINH TẾ, TÀI CHÍNH ĐÔ THỊ VÀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH - Mục tiêu 1: Trang bị cho học viên các kiến thức về sự hình thành, phân loại và các hình thái phát triển đô thị nói chung. - Mục tiêu 2: Các vấn đề liên quan tới nền kinh tế đô thị, có tính tới đặc thù đô thị hiện hữu của Việt Nam (như dân số, lao động, việc làm, đất đai, nhà ở và môi trường). Mục tiêu 3: Thiết lập, quản lý và phát triển nguồn tài chính đô thị với các đặc thù tương ứng cho đô thị hiện hữu Việt Nam.
Mục tiêu 4: Sử dụng kiến thức nêu ở các mục tiêu trên phục vụ cho quá trình hoạch định chính sách quản lý và phát triển đô thị một cách có hiệu quả nhất. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐÔ THỊ Đô thị là một không gian cư trú của con người, ở đó cư dân sống tập trung với mật độ cao, lao động chủ yếu làm việc trong khu vực phi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội phát triển, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một lãnh thổ nhất định. Trong chương này sẽ giới thiệu tổng quan về kinh tế đô thị nói chung và các vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển các đô thị. Chương này cũng đề cập đến những nội dung về quá trình hình thành và phát triển đô thị trên thế giới cũng như tại Việt Nam.
Nội dung tiếp theo trình bày các mô hình hóa sự phát triển đô thị và các thành phần kinh tế trong đô thị. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA ĐÔ THỊ 1. Khái niệm đô thị Theo văn bản hợp nhất 11/VBHN-VPQH năm 2019 hợp nhất Luật quy hoạch đô thị do Văn phòng Quốc hội ban hành: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn. Có 3 tiêu chuẩn cơ bản xác định đô thị: Quy mô dân số Đô thị phải là một khu vực dân cư có quan hệ chặt chẽ về mặt kinh tế với một quy mô dân số nhất định.
Ngưỡng tối thiểu về quy mô dân số của đô thị ở các nước thường có sự khác nhau do những đặc điểm về kinh tế, địa lý, xã hội…Ví dụ ở Hoa Kỳ là 2500 người, Canada là 1000 người, Pháp là 2000 người, Việt Nam là 4000 người. Chức năng đô thị Hoạt động của con người trong đô thị không liên quan trực tiếp với đất đai. Đó là các hoạt động thủ công nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Đối với những hoạt động này thì đất đai chỉ là mặt bằng diện tích để hoạt động chứ không phải là phương tiện sản xuất trực tiếp như trong nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi).
Do đó để một khu vực dân cư được coi là một đô thị thì nó phải đạt được một tỷ lệ dân cư phi nông nghiệp nhất định nào đó. Ở Việt Nam hiện nay đang quy định mức tối thiểu dân số phi nông nghiệp của đô thị phải là 65%. Không gian kiến trúc phong cảnh Tiêu chuẩn này liên quan đến mật độ dân cư. Một số nơi quy định cụ thể về tiêu chuẩn này.
Ví dụ ở Canada mật độ tối thiểu của cư dân vùng đô thị phải không nhỏ hơn 400 người/km 2, ở Pháp thì quy định khoảng cách giữa các công trình kiến trúc trong đô thị không quá 200m, ở Việt Nam quy định mật độ dân số thấp nhất cho đô thị loại 5 là 2000 người/km2. Đặc điểm về đô thị Đô thị là nơi tập trung nhiều vấn đề và có tính toàn cầu: - Vấn đề môi trường: Tốc độ gia tăng quá nhanh về công nghiệp hóa và đô thị hóa dẫn đến phá hủy một phần hệ môi trường sinh thái, gây ô nhiễm… trong khi khắc phục các sự cố rất chậm chạp, không đầy đủ vì nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân quan trọng là tài chính hạn chế. - Vấn đề dân số: Tốc độ gia tăng quá nhanh về dân số và dân số đô thị, hai hướng chuyển dịch dân cư diễn ra song song. Theo chiều rộng: từ nông thôn vào thành thị (dân lao động), từ đô thị nhỏ vào đô thị lớn, từ nước kém phát triển đến nước phát triển, từ nội thành ra ngoại thành.
Theo chiều sâu: chuyển dịch cơ cấu lao động, từ các hoạt động nông nghiệp sang phi nông nghiệp. - Vấn đề tổ chức không gian và môi trường: Quy mô dân số đô thị tập trung quá lớn không điều hòa nổi gây bế tắc trong tổ chức môi trường sống đô thị (thái lan, Việt Nam…). Đô thị và nông thôn là hai hình thái xã hội khác biệt “Sự tồn tại của đô thị tự bản thân nó khác hẳn vấn đề đơn giản là xây dựng nhiều nhà cửa độc lập với nhau, ở đây cái tổng hợp, cái chung nhất không phải là con số cộng của những bộ phận cấu thành. Đó là một cơ thể sống riêng biệt theo kiểu của nó” (Marx và F.Enghels, quyển 46, phần I).
100 80 Dân cư nông thôn Dân cư đô thị 60 40 20 0% 1800 1900 2000 2100 Văn minh nông thôn Giai đoạn quá độ Văn minh đô thị Hình 1-1: Xu hướng phát triển dân cư nông thôn và đô thị thế giới 9 Khi muốn tìm hiểu hoạt động của đô thị, chúng ta phải so sánh nó với nông thôn. Chúng ta sẽ không thể hiểu được đô thị hoạt động như thế nào nếu không biết đến những ảnh hưởng qua lại giữa đô thị và nông thôn. Khi hệ thống địa giới hành chính bắt đầu được hình thành. Đô thị là một thị trường lao động Người lao động muốn làm việc vì họ muốn khoản tiền kiếm được từ công việc, vì vậy họ cung cấp sức lao động của mình.
Các ngành kinh tế muốn vận hành quá trình sản xuất có hiệu quả, chỉ có thể thực hiện được với sự trợ giúp của người lao động. Nhưng sau đó người lao động sẽ mua những hàng hóa được sản xuất bởi các ngành kinh tế. Vì vậy các ngành cần đến lao động cũng như người lao động cần cung cấp sức lao động của mình. Lao động trong đô thị được chuyên môn hóa cao và do đó giá cả sức lao động ở đô thị cũng cao hơn ở nông thôn.
Đô thị là một thị trường tiêu thụ Vì thành phố là nơi tập trung đông dân với hoạt động sản xuất chuyên môn hóa cao, nên nhu cầu cung cấp, trao đổi trao hàng hóa, hay tiêu dùng cũng rất cao. Sự bố trí sắp xếp hệ thống dịch vụ, thương mại trong thành phố là vấn đề quan trọng để phục vụ người dân đô thị. Đô thị như là một nền kinh tế quốc dân: Vì đô thị cũng được giới hạn về mặt hành chính, hoạt động của nó có tính độc lập tương đối. Vai trò của đô thị Tùy theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các vai trò khác nhau, nhìn chung có mấy vai trò chủ yếu sau? Vai trò kinh tế: Vào bất kì giai đoạn nào trong lịch sử phát triển xã hội của loài người, thì các đô thị luôn được coi là nơi nắm giữ các quyền lực về chính trị, kinh tế quan trọng của xã hội và có sức chi phối mạnh mẽ, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của vùng và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đóng góp của đô thị về phương diện kinh tế là rất lớn. Các đô thị thường là các trung tâm và là động lực cho sự phát triển kinh tế của đất nước, của vùng. Các đô thị là nơi đóng góp phần lớn giá trị GDP, giá trị ngành công nghiệp - dịch vụ, và giá trị tăng trưởng nền kinh tế. Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hiện nay, trên thế giới đã hình thành các trung tâm đô thị lớn được mệnh danh là “thành phố toàn cầu” chi phối nền kinh tế thế giới như Niu-Iooc, Tô-ky-ô, Luân-đôn, Pa- ri, … Các thành phố này là nơi tập trung các trung tâm tài chính, các văn phòng luật, các trụ sở quốc tế, các loại hình dịch vụ chuyên môn hóa phục vụ cho các công ty và các tập đoàn xuyên quốc gia.
Các tập đoàn, công ty có các cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ phân bố phân tán trên toàn thế giới nên sự ảnh hưởng của nó là rất lớn. Vì vậy, có thể coi các thành phố toàn cầu này là trung tâm quyền lực chi phối nền kinh tế toàn thế giới. Trong phạm vi một quốc gia, các cơ quan chính trị quan trọng của đất nước thường được đặt ở những đô thị lớn của đất nước, đặc biệt là ở thủ đô. Vì vậy, thông thường các thủ đô là các đô thị quan trọng bậc nhất, chi phối toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị xã hội của đất nước.
Ở Việt Nam, các cơ quan chính trị quan trọng của Nhà nước thường được đặt ở hai đô thị lớn nhất cả nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các cơ quan chính trị của tỉnh thường được đặt ở các thành phố và thị xã trực thuộc, các cơ quan chính trị của huyện thường được đặt ở các thị trấn,… Vai trò xã hội: 10 Vai trò này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với tăng quy mô dân cư đô thị. Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại … là những vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường. Chức năng xã hội ngày càng nặng nề không chỉ tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại … thay đổi. Vai trò văn hóa: Ở tất cả các đô thị đều có có nhu cầu giáo dục và giải trí cao.