đặt vấn đề và trình bày quá trình suy nghĩ giải quyết (chứ không phải đơn thuần nêu lời giải). Thầy thuyết trình cả quá trình tìm kiếm, dự đoán, có khi t th công, có khi thất bại, phải điều chỉnh phương hướng nhiều lần mới đi đến kết quả”. Nói cách khác, thầy trình bày cả quá trình khám phá ra vấn đề theo kiểu mô phỏng quá trình thực, nhưng dưới dạng tối ưu nhất và vừa sức với HS. Biện pháp nà có giá trị rồ rệt về mặt nhận thức: quá trình nảy sinh, phát triển, những khó khăn khi giải quyết và tâm quan trọng của lý thuyết, sẽ tạo khả năng để HS đánh giá được sức mạnh của sự khám phá.
Các biện pháp tiếp theo là giúp HS dẫn tiếp cận với sự tự lực GQ các vấn đề. Biện pháp 2: Thảo luận thông qua hệ thống câu hỏi Biện pháp này được sử dụng để HS tìm kiếm chiến lược giải quyết thông qua việc nghiên cứu trả lời một hệ thống câu hỏi. Các câu hỏi phải được đặt ra sao cho. kích thích tối đa hoạt động nhận thức tích cực của HS.
Muốn vậy, các câu hỏi được đặt ra cần được xây dựng ngắn gon, đễ hiểu, rõ ràng và có tính đến trình độ nhận thức chung của cả lớp cũng như từng HS. Vấn đề không chỉ phải suy tính cả một hệ thống câu hỏi, mà phải suy tính tới cả những câu trả lời của HS. Biện pháp 3: Dùng phương pháp diễn dịch Nhiều khi để GQVĐ hay lĩnh hội kiến thức mới, ta phải vận dụng sáng tạo một nguyên tắc, định lí hay quy luật nảo đó. Biện pháp này được sử dụng trước hết khi IIS tự lực tìm ra hệ quả của lý thuyết, rút ra các kết luận khi có những biến dỗi toán học trên cơ sở những tình hudng đã biết.
‘Thu hút HS tham gia quá trình học tập bằng biện pháp này, chúng ta dã dạy cho các em biết ý nghĩa của các hệ quả toán học, thay thế cho việc ghi chép máy móc lên bảng và đặc biệt, các em ý thức được năng lực tiềm ẩn của bản thân khi tiếp thu sáng tạo những kiến thức toán học cho mình. Biện pháp 4: Dùng phép phân tích và tổng hợp Dùng phép phân tích để phân chia một vấn đề nào đó thành những cái khía cạnh, những yếu tố nhỏ đơn giản hơn để nghiên cứu, phát hiện ra từng thuộc tính và cái phức tạp của từng yếu tố đó, và từ đó giúp chúng ta giải quyết được vấn đề. Tổng hợp là một quá trình ngược lại với quá trình phân tích, nhưng lại hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra hướng giải quyết vấn đẻ đó. Trang 11 Phân tích và tổng hợp xen kẽ nhau, bổ sung cho nhau cho đến khi giải quyết được van dé.
Biện pháp 5: Gợi ý dùng phép tương tự Biện pháp này dựa vào kinh nghiệm hoặc kiến thức đã có của IIS, nó khác với biện pháp tương tự nói ở trên ở chỗ, sự tương tự lúc này được hiểu theo nghĩa, tương tự ở hướng đi, ở cách làm, cách suy nghĩ trong quá trình tìm tòi ï giải. Dấu hiệu nhận biết là có sự tương tự về yếu tố, dữ kiện, hiện tượng của hai đối tượng nhận thức. Biện pháp 6: Tạo nên và hướng dẫn giải quyết mâu thuẫn DH GQVĐ nhiều khi gắn liền với việc nhắn mạnh các tỉnh huống mâu thuẫn chứa đựng trong nội dung DH và việc HS giải thích chúng. Hoạt động của GV có thể như sau: ~ Đưa ra tình huống mà HS sẽ trả lời theo hai cách mâu thuẫn nhau.
- Hướng dẫn HS giải thích dé tim ra hướng đi đúng. Nhóm biện pháp nhằm tích cực hóa tư duy HS trong quá trình kiểm tra và vận dụng kiến thức Khả năng tích cực hóa tư duy của HS ở quá trình này là hết sức rộng lớn. Các biện pháp cần hướng tới chỗ làm sao để mỗi HS tự khám phá cái mới trong cái đã biết và hiểu rõ khái niệm, tính chất, định lí, hệ quả được chứa đựng trong những nội dung, được biểu hiện trong những hình thức phong phú như thế nào. Vì vậy, khi sử dụng DH GQVD vào quá trình vận dụng kiến thức, nên tạo điều kiện cho việc vận dụng kiến thức mới và củng cố kiến thức đó cú hòa vào một quá trình duy nhất để dảm bảo sự bền vững của việc nhận thức và sự phát triển trí tuệ của HS.
Trong phần này GV có thể vận dụng các biện pháp như: Khái quát hóa, đặc biệt hóa, sử dụng phép tương tự cũng như kết hợp cả khái quát hóa, đặc biệt hóa và tương tự. Ngoài ra, cũng có hai biện pháp mà GV có thể chú ý thêm khi vận dụng vào quá trình dạy học PH & GQVĐ là: 1. Biện pháp 1: Phat trién tw duy logic Với mục đích là rèn luyện kĩ năng phân tích cho HS. GV có thể xây dựng các loại bài tập như là: Loai 1: Từ quy luật và công thức tổng quát, phân tích và nghiên cứu những, trường hợp rỉ Loai 2: Nêu điều kiện để xảy ra từng trường hợp cụ thể.
Loai 3: Luận giải hoặc phủ định một mệnh đề. Trang 12 Trong đó với bài tập loại 1 sé giúp HS thu được niềm tin vào khả năng của mình, biết rút ra những kết luận và thiết lập được mối liên hệ giữa cái mới với cái đã biết. Bai tập loại 2 cho phép HS củng có được kiến thức, gắn nó với những điều đã biết một cách linh hoạt và sáng tạo. Bài tập loại 3 là sự kết hợp của cả hai loại bài tập trên, trong đó còn chứa đựng cả việc thiết lp mdi liên quan trong tình huống mới.
Biện pháp 2: Cho học sinh phát hiện lời giải có sai lầm và được thử thách thường xuyên với bài toán dễ mắc sai lầm Để giúp cho HS có PP nhận biết lời giải sai, GV cần yêu cầu HS tự trả lời những câu hỏi như: - Kết quả của bài toán có mâu thuẫn với kết quả trong trường hợp riêng hay không? ~ Trường hợp riêng của kết quả có thỏa mãn bài toán hay không? - Kết quả lời giải có chứa kết quả trong trường hợp riêng hay không? ~ Kết luận có bình đẳng giữa các yếu tố bình đẳng ở giả thiết hay không? - Kết quả của lời giải này có khác kết quả của lời giải khác hay không? Khi biết mình mắc sai lầm và vướng vào sai lầm, HS mới thực sự thấm thía việc cần thiết phải hiểu sâu sắc bản chất của từng tri thức đã lĩnh hội, cũng như việc kiểm tra lại từng bước suy luận trong quá trình tìm tòi jai cha minh. Tom lai, thyc chat cia DH PH & GQVD là tạo điều kiện để HS được học tập trong hoạt động, bằng hoạt động của chính minh. Dạy học PH & GQVĐ phải tích cực hóa được người học, sự học thông qua các hình thức tổ chức, các giai đoạn của quá trình dạy học, các biện pháp sử dụng trong các giai đoạn đó. Và việc GV lựa chọn biện pháp nào hay sáng tạo ra biện pháp mới đều gắn liền với nội dung DH, mục đích giờ học và trình độ nhận thức của IIS và đồng thời phải có những suy tính về những tình huống sư phạm có thể xảy ra trong quá trình dạy học.
Những điều cần lưu ý khi vận dụng day hoc PH & GQVD trong môn Toán Việc vận dụng dạy học PH & GQVĐ trong môn Toán, theo Phạm Văn Hoàn, Trần Thúc Trình, Nguyễn Gia Cốc, có nghĩa là phải tổ chức việc DH toán sao cho các cm luôn đứng trước những tình huống có vấn đề mang tính chất toán học phải giải quyết, phải luôn luôn tìm tòi, phát hiện ra vấn đề và sáng tạo những con đường để giải quyết những vấn đề đó (tự tìm ra công thức, tự chứng minh định lí, tìm cách ghi nhớ một cách tích cực cần kiến thức cần lĩnh hội, tự tìm ra thuật toán giải bài toán điển hình. Kết quả là HS lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, đồng thời học cách tự khám phá. Trang 13 Khi vận dung day hoc PH & GQVD trong môn Toán cần phải chú ý khai thác sử dụng những khía cạnh sau đây: = Khi DH khái niệm cần vận động linh hoạt hai con đường: con đường qui nạp và con đường suy diễn. - Khi DH định lý cần chúý hai con đường suy diễn và suy đoán.
~ Khi DH giải bài tập toán cần chú ý đến cả hai mặt suy diễn và suy lý. Nói cách khác khi DH cần chúý thực hiện ca hai mặt: Dạy chứng minh và dạy tìm tòi. Đồng thời cần chú ý rèn luyện cho HS các hoạt động trí tuệ chung như: tương tự hoá, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tổng quát hoá. Thực tiễn dạy học chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” ở trường THPT 1.
Sơ lược nội dung chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” (Hình học 12- Nâng cao) và phân phối chương trình Theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/05/2006 của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, nội dung SGK Hình học 12 viết theo chương trình mới sồm ba chương, có 45 tiết, trong đó PP tọa độ trong không gian được đặt ở chương III và gồm có 20 tiết. Chương này gồm các phần chính : ø - Hệ tọa độ trong không gian. © Phuong trinh mat phẳng. © Phuong trinh đường thẳng.
Trong đó nội dung của mỗi phần như sau: - Hé tọa độ trong không gian: Hệ trục trục tọa độ; tọa độ của vectơ; tọa độ của diểm; khoảng cách giữa hai điểm; tích có hướng của hai vectơ; phương trình mặt cầu. -_ Phương trình mặt phẳng: Vcctơ pháp tuyến của mặt phẳng; phương trình tổng. quát của mặt phẳng; vị trí tương đối giữa hai mặt phẳng; khoảng cách từ một điểm dén mat phẳng. - Phuong trinh duéng thẳng: Phương trình tham số và phương trình chính tắc của đường thẳng; vị trí tương đối giữa hai đường thẳng.
Đặc điểm chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” 1. Thuận lợi Chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” là phần củng có và tiếp tục phát triển những nội dung quen thuộc mà HS được học ở lớp 10. Do đó HS sẽ dễ lĩnh hội kiến thức của chương. Trang 14 ~ Cách trình bày, diễn đạt kiến thức mới của SGK là tương đối đễ hiểu và phù hợp với trình độ nhận thức của đa số HS.
- Số lượng bài tập vừa phải nên không. gây tình trạng quá tải đối với HS mà vẫn đảm bảo giúp IIS tập suy luận, khái quát, tập tư duy trừu tượng.