lời mở đầu, môn học được chia làm 6 chương với thời lượng giảng dạy 4 tín chỉ. Trong đó: CHUONG 1: GIA DINH, DONG HO, LANG XÃ VIỆT NAM CO TRUYEN — NHUNG VAN DE KHAI QUAT CHUONG 2: GIA DINH, DONG HO, LANG XA VIET NAM CO TRUYEN - NHỮNG VẦN ĐÈ VĂN HÓA XÃ HỘI CHƯƠNG 3: GIA ĐÌNH, DONG HO, LANG XA VIET NAM CO TRUYEN - NHUNG VAN DE VAN HOA TINH THAN CHUONG 4: GIA DINH, DONG HO, LANG XA VIET NAM CO TRUYEN - NHUNG VAN DE VAN HOA VAT CHAT CHUONG 5: GIA DINH, DONG HO, LANG XA VIET NAM CO TRUYEN - NHUNG VAN DE VAN HOA NGHE THUAT CHUONG 6: VAN HOA LANG XA VIET NAM CO TRUYEN - HOI NHAP VA PHAT TRIEN Ôn tập và kiểm tra 4 tiết §. Tài liệu tham khảo chính 1. Toan Ánh (1992), Nếp cũ làng xóm Việt Nam, NXB Tp Hỗ Chí Minh 2.
Huỳnh Công Bá (2008), Lịch sử văn hóa Việt Nam, NXB Thuận Hóa 3. Huỳnh Công Bá (2008), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Thuận Hóa. Vũ Ngọc Khánh (2004), Làng cổ truyền Việt Nam, NXB Thanh Niên, Hà Nội. Vũ Ngọc Khánh (2007), Nghiên cứu Văn hóa cổ truyền Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Nguyễn Thị Vink Link 3 Năm 2012 Bài giảng: Gia đình, đồng họ, làng xã Việt Nam cỗ truyền Đại học Quảng Nam B.
NỘI DUNG CHUONG 1: GIA DINH, DONG HO, LANG XA VIET NAM CO TRUYEN — NHUNG VAN DE KHAI QUAT * Muc tiéu: Giáo dục: SV nắm vững và hiểu rỡ các khái niệm gia đình, dòng họ, làng, xã. Những nề nếp và tập tục của một gia đình người Vi truyền. Mối quan hệ giữa gia đình và đòng tộc cũng như vai trò của dòng tộc đối với xã hội Việt cổ truyền. Giáo dưỡng: Từ những kiến thức được lĩnh hội, người học sẽ có một nhận thức đúng đắn về gia đình, làng xã người Việt cổ truyền.
Từ đó, bồi dưỡng tình yêu thương, gắn bó với gia đình, làng xóm. Đồng thời thấy rõ trách nhiệm của một thành viên trong dòng tộc, nhằm có gắng phần dau học tập dé góp phần xây dựng dòng họ và làng xã ngày càng văn minh, giàu mạnh. Phát triển: bồi dưỡng kỹ năng phân tích tổng hợp. * Phương pháp giắng dạy: sử dụng tổng hợp các phương pháp: phát vấn, thuyết minh, đặc biệt sử dụng hệ thống các câu hỏi gợi mở để giúp SV tiếp can van đề một cách nhanh chóng và chính xác.1 Khái niệm gia đình, dòng họ 1.1 Gia đình - Theo nghĩa rộng: Gia đình bao gồm cả gia tộc những người thân cùng huyết thống.
Đặc biệt với nguồn gốc con Rồng cháu Tiên thì dân tộc ta là một đại gia đình. Gia đình truyền thống của người Việt là những Tam đại, Tứ đại, Ngữ đại đồng đường. - Theo nghĩa hẹp: Tức là gia đình hạt nhân trong truyền thống Việt Nam. Trong đó, quan hệ cha me — con cái chỉphối hết thay moi méi qua hé khac.
Như vậy, Gia đình: là một tổ chức cơ sở gồm những người liên kết với nhau bằng huyết thống và nghĩa tình. Hai vợ chồng tuy không cùng huyết thống nhưng được liên kết với nhau bằng sợi đây tình nghĩa. Tổ chức ấy có mục đích thiêng liêng là xây dựng cho cơ sở đất nước một tổ ấm cả về tỉnh thần và về vật chất để giáo dục con cái, đóng góp và giữ gìn văn hóa dân tộc 1.12 Dòng họ Dòng họ xét về mặt vật chất, là chỉ một tập hợp người cùng một huyết thống. Xã hội loài người đù bất kỳ nền văn hóa nào cũng đều muôn sản sinh ra những thế hệ kế tục khỏe mạnh về thể chat va tinh thần.
Điều đó, được thể hiện như những nét văn hóa, chẳng hạn như việc cắm kết hôn trong cùng đòng máu, cắm mọi hành vi loạn luân. Nguyễn Thị Vink Link 4 Năm 2012 Bài giảng: Gia đình, đồng họ, làng xã Việt Nam cỗ truyền Dai hgc Quang Nam Đối với mỗi đòng họ, chúng tathấy được sự có kết huyết thống được thể hiện trong các cây phả hệ. Tat cä được duy trì một cách có quy tắc nghiêm ngặt trong các xưng hô - ứng xử; và các dòng họ đã văn bản hóa cách thức ứng xử đó bằng cuốn gia phả dòng họ. Cũng từ gia phả, các nhà thờ họ - từ đường ra đời nhằm duy trì tập tục và truyền thống của từng họ.
Nhiệm vụ của dòng họ là làm sao duy trì và tạo lập cho các thế hệ tiếp sau có cuộc sống lành mạnh, ổn định lâu dài. Vai trò của đòng họ đối với từng gia đình cũng như đối với mỗi thành viên trong dòng tộc có ý nghĩa giáo dục quan trọng. Tự hào về dòng họ sẽ góp phần nuôi đường lòng tự hào dân tộc. Cho nên có thể nói, văn hóa đòng họ là vẫn đề rất thiêng liên trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam.2 Thuật ngữ làng, xã, văn hóa làng 1.1 Làng (Nôm): - “Làng”, như nhiều học giả đã xác nhận, đó là từ thuần Việt.
Đây là điều thật đáng lưu ý. Khác với xã, thôn là những từ Hán - Việt, làng có cội nguồn từ chính đời sống Việt Nam và được biểu đạt trong ngôn ngữ thuần Việt. - Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này: Theo TS. Huỳng Công Bá: “Làng - dùng để chỉ một đơn vị tụ cư nhỏ nhưng chặt chẽ và hoàn chỉnh nhất của người nông dân Việt Nam”.
Nguyễn Văn Mạnh, làng là “một cộng đồng dân cư cố kết với nhau trên cơ sở một vùng lãnh thổ nhất định [16; 17]. Các thành viên được phân định vai trò của mình trong cơ cấu làng, thông qua đân bản quán hay dân ngụ cư gắn bó với nhau ít nhất về hai phương diện: láng giềng, cận cư và huyết tộc. Cộng đồng cư dan làng có lối sống riêng, có những đặc trưng đặc thù về tâm lý, đạo đức, phong tục, tập quán. +Theo GS Nguyễn Duy Quy: “Làng Việt (kẻ, thôn.) là một thiết chế xã hội, một đơn vị tổ chức chặt chẽ của nông thôn Việt trên cơ sở địa vực, địa bàn cư trú; là sản phẩm tự nhiên phát sinh từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt; trồng trọt là điểm tập hợp cuộc sống cộng đồng tự quản đa dang và phong phú của người nông dân, ở đó họ sống, làm việc, quan hệ, vui chơi, thể hiện mối ứng xử văn hoá với thiên nhiên, xã hội và bản thân họ.
Tran Quốc Vượng: “Làng là một đơn vị cơ sở và là không gian sinh hoạt văn hóa chính yếu của người Việt, là một thiết chế phức hợp, vừa chứa những yếu tố khởi nguyên của công xã, vừa chịu tác động của những thay đổi chế độ xã hội. Làng - một hệ thống riêng (kinh tế, xã hội .) gồm những yếu tế hợp thành. Hệ thống này có những quan hệ nội tại, bên trong (đóng kín), song cũng có những quan hệ bên ngoài (mở, hở)” [47; 22] Nguyễn Thi Vink Link 5 Nam 2012 Bài giảng: Gia đình, đồng họ, làng xã Việt Nam cỗ truyền Đại học Quảng Nam * Mặc dù các nhà nghiên cứu đã có những định nghĩa khác nhau về thuật ngĩĩ “làng” nhưng tựu chung lại chúng ta đều thống nhất ở những điểm sau đây: - Làng Việt là một thành tố quan trọng trong cơ cầu xã hội Việt (nỗi lên là gia đình (nhà) - làng - nước, còn cấp vùng, tỉnh là đơn vị trung gian ít quan trọng hơn) với hai đặc trưng cơ bản là: tính cộng đồng và tính tự trị. - Là một thiết chế xã hội của nông thôn Việt, có cơ cầu tổ chức phong phú nhưng chặt chẽ, có tính cộng đồng và tự trị cao, làng Việt ở mặt trái, mang tính khép kín, bản vị.
Song nó lại chính là nơi lưu giữ, bảo vệ một thứ văn hoá làng chống lại sự xâm lăng, đồng hoá của văn hoá ngoại lai. Làng Việt và văn hoá làng Việt đang là vấn đề rất thú vị cho những ai quan tâm, nghiên cứu nó. - Tuy thế, ở nước ta, không phải bắt kỳ đâu, làng Việt cũng có đặc điểm và tính chất giống hệt nhau. Nhiều nhà nghiên cứu khảo cỗ học, folklore hoc, tâm lý dân tộc học.
qua quá trình điền đã và thẳm định đã cho thấy rằng: làng Việt ở Bắc - Trung - Nam bộ có những đặc điểm khác nhau trên cơ sở những cái giống, cái chung. Tính chất và đặc điểm đại đồng, tiểu đị này ngày càng được khẳng định không chỉ về mặt lý thuyết, mà còn ở thực tiễn nữa.2 Xã - Đây là từ gốc Hán - Việt, từ nguyên có nghĩa là “nền đất để tế thần (thời thượng cổ, cư đân một vùng thường tập hợp lại hàng năm làm lễ tế thần đất trên một cái nền). Lâu dần thuận tiện trong giao dịch, người ta gọi khu vực do 1a “xa” [18; 752]. Qua quá trình phát triến, xã đã trở thành đơn vị hành chính thắp nhất và là đơn vị hành chính cấp cơ sở của nhà nước phong kiến ở các vùng nông thôn Việt Nam thời xưa.
Trong khi làng là địa điểm tụ cư một cách tự nhiên của người dân Việt thì xã lại là đơn vị hành chính do chính quyền phong kiến lập nên bao gồm nhiều làng để tiện cho việc tổ chức, quản lý cư dân. Như vậy, làng là yếu tố cầu thành của xã. Đối với những xã lớn gềm nhiều làng và trong xã người ta thường chia thành các thôn và do đó làng ở đây được xem là tương đương với thôn. Cho nên, trong khi làng thiên về làng xóm, tỉnh cảm thì thôn mang tính chất hành chính nhiều hơn.
Ở những làng lớn khi chuyển sang hệ thống hành chính cơ sở của nhà nước phong kiến thì làng được mang tên là xã. Trong trường hợp này thì làng tương đương với xã nhưng cách thức sử dụng các từ ngĩ này có sự khác nhau trong sắc thái ngữ nghĩa, xã được dùng với ý nghiã hành chính và được ghi vào số sách nhà nước, còn làng mang tính chất truyền thống thiên về khía cạnh tình cảm. - Như vậy, về phương diện hành chính, xã là thiết chế có tính chất pháp lý. Còn đối với người dân, người nông đân bình thường của hàng bao thế kỷ, thì người ta chỉ biết có làng.
Các chỉ, dụ, luật pháp. của triều đình; các thể chế, quy định của xã, Nguyễn Thị Vink Link 6 Năm 2012 Bài giảng: Gia đình, đồng họ, làng xã Việt Nam cỗ truyền Đại học Quảng Nam thôn. hết thảy đều thể hiện sức mạnh thông qua làng. Tập tục làng, truyền thống làng là chất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên của làng.