CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Từ khái niệm sơ khai nhất, theo Frederic S.Mishkin (1986), Giáo trình The Economics of Money, Banking, Financial Markets “Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi và cho vay”. Sau thời gian kinh tế-xã hội phát triển vượt bậc, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các chủ thể tham gia, các chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng thương mại từng bước được mở rộng nhiều hơn.
Theo Phan Thị Thu Hà (2013), Giáo trình Ngân hàng thương mại “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Hiện nay, định nghĩa về NHTM của các nhà kinh tế học hiện đại như sau: “Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, tuân thủ theo pháp luật và theo đuổi mục tiêu lợi nhuận”. Còn trong hệ thống quy phạm pháp luật, trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, Luật tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 ngày 18/01/2024 định nghĩa “loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Theo đó, tại Khoản 17 Điều 4 nêu ra “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.” Như vậy, các NHTM cung cấp các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, được ví như mạch máu của nền kinh tế và thu lại các khoản phí dịch vụ, lãi để vận hành và tạo ra lợi nhuận. Trong đó, hoạt động nhận tiền gửi và cho vay lại những đồng vốn đó với lãi suất cao hơn chính là hoạt động căn bản nhất của NHTM.
Cũng chính vì hoạt động này mà dòng vốn trong nền kinh tế được điều phối, tiếp nhận dòng vốn dư 8 thừa và luân chuyển dòng tiền đến đối tượng cần vốn, duy trì tính thanh khoản cho các chủ thể. Nếu không có NHTM, nền kinh tế sẽ không thể lưu thông vốn, đây là yếu tố then chốt trong việc phát triển kinh tế. Tóm lại, dù có nhiều định nghĩa về Ngân hàng Thương mại (NHTM), nhưng có thể hiểu như sau: Với các nghiệp vụ kinh doanh đặc thù của mình, NHTM được nhìn nhận là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, cung ứng loại hàng hóa đặc biệt là "tiền tệ", cung cấp các hoạt động cơ bản liên quan tới tiền tệ. Từ đó, NHTM thể hiện các chức năng và vai trò quan trọng của mình trong hệ thống tài chính.
Theo khái niệm sơ khai nhất, theo Frederic S. Mishkin (1986), trong giáo trình "The Economics of Money, Banking, Financial Markets", "Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi và cho vay". Các đặc trưng của Ngân hàng thương mại Thứ nhất, NHTM là doanh nghiệp có quy mô lớn, đặc trưng bởi cấu trúc tài sản đặc biệt. Quy mô lớn trước tiên thể hiện ở nguồn vốn lớn, đây là điều kiện cần để đảm bảo ổn định sức khỏe của NHTM nói riêng và hệ thống tài chính nói chung trước các biến động khó lường của nền kinh tế.
Về vốn chủ sở hữu, theo Nghị định 86/2019/NĐ-CP, NHTM hiện nay luôn phải đảm bảo vốn pháp định tối thiểu là 3. Tương ứng với tổng nguồn vốn lớn, NHTM cũng có tổng tài sản khổng lồ nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh đặc biệt. Điểm khác biệt với các Doanh nghiệp thông thường, NHTM có cấu trúc tài sản chủ yếu là các tài sản tài chính, tài sản cố định chiếm tỷ trọng nhỏ. Tài sản tài chính có thể hoặc không tồn tại ở hình thái vật chất, giá trị và thanh khoản được thể hiện trên những hợp đồng, chứng từ, dữ liệu điện tử… và được phát sinh từ một tài sản cơ sở nhất định.
Các tài sản tài chính cơ bản của NHTM bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản cho vay, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, cổ phiếu…( Phan Thị Thu Hà, 2013). NHTM được xếp vào danh sách Doanh nghiệp lớn còn thể hiện bởi số lượng giao dịch, mạng lưới rộng, có mặt ở hầu như tất cả các khu vực, vùng miền, địa lý. Mạng lưới càng rộng thì khả năng năng liên kết “mạch máu” càng được đảm bảo và hiệu quả. 9 Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, hoạt động của NHTM ngày càng phong phú và đa dạng với xu hướng chuyển mình từ ngân hàng chuyên doanh thành ngân hàng đa năng, ngày càng tăng trưởng mạnh về đối tượng và số lượng khách hàng giao dịch, phạm vi hoạt động của NHTM trên khắp cả nước, ở cả trong nước và quốc tế …( Phan Thị Thu Hà, 2013).
Thứ hai, hoạt động của NHTM chứa đựng nhiều rủi ro, kiểm kiểm soát, giám sát trong khuôn khổ của pháp luật. Tiền tệ là sản phẩm kinh doanh của NHTM, đây là thứ khó kiểm soát dẫn đến chứa đựng nhiều rủi ro. Về bản chất, những lĩnh vực liên quan đến tiền tệ và các dịch vụ tài chính đều có tác động lớn và tức thì đến sức khỏe của nền kinh tế. Với hoạt động ngân hàng, “tiền tệ” được kinh doanh trên quan hệ tín dụng, lợi nhuận tỷ lệ thuận với mức độ rủi ro và mức độ rủi ro tỷ lệ thuận với kỳ hạn khoản vay.
Không phải khoản nợ nào cũng thực hiện hoàn trả đúng kỳ hạn thỏa thuận, do đó NHTM phải chấp nhận rủi ro cho vay trước khi quyết định kinh doanh đồng vốn mà mình huy động. Vì vậy, NHTM ngoài việc tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật mà còn có bộ phận kiểm soát rủi ro, ban pháp chế, đưa ra những quy trình, quy định, chính sách riêng để hạn chế rủi ro, đặt ra khẩu vị rủi ro cho Ngân hàng. Chính vì hoạt, hoạt động cho vay của từng NHTM được kiểm soát chặt chẽ đảm bảo đúng pháp luật và định hướng của từng Ngân hàng …( Phan Thị Thu Hà, 2013). Về cấu trúc tài chính, NHTM có hệ số nợ cao và nguồn vốn chủ yếu được huy động từ nguồn vốn bên ngoài, vốn tự có chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
Tuy nhiên, nguồn vốn huy động chủ yếu là vốn lưu động, đồng thời khách hàng có thể rút trước hạn tại mọi thời điểm do đó chưa đựng rủi ro thanh khoản cao. Chính vì vậy, các cơ quan quản lý Nhà nước và bản thân NHTM luôn có những quy định về giới hạn phải tuân theo, đề ra những dấu hiệu để cảnh bảo sớm mức độ an toàn thanh khoản cho các ngân hàng, đảm bảo các NHTM có thể nhận biết được tình hình kinh doanh và kịp thời đưa ra giải pháp khắc phục …( Phan Thị Thu Hà, 2013). Thứ ba, hệ thống NHTM cần có hoạt động liên kết và ổn định để tránh những phản ứng khủng hoảng dây chuyền. 10 NHTM cung ứng các dịch vụ phong phú, đa dạng cho nhiều ngành nghề và tất cả các chủ thể trong nền kinh tế với mạng lưới bao phủ rộng lớn cả trong và ngoài nước.
Một khi xảy ra khủng hoảng tại ngân hàng, nó sẽ nhành chóng lan rộng đến mọi đối tượng trong nền kinh tế và gây ra thiệt hại nặng nề, gây khủng hoảng dây chuyền vĩ mô. Đây là kịch bản đáng sợ cho bất kỳ quốc gia nào bởi nó đưa đến sự sụp độ theo chuỗi, từ những thành phần kinh tế nhỏ nhất đến lớn nhất. Ngân hàng với vai trò trung gian tài chính, khi khủng hoảng xảy ra tại ngân hàng, dòng vốn bị đứt đoạn, không thể hoàn trả cho khách hàng gửi tiền, gây ra phản ứng tiêu cực cho nền kinh tế và lòng tin đối với các chủ thể kinh tế vào hoạt động ngân hàng, lan chuyền sang hệ thống các NHTM, làm dòng vốn huy động vào giảm, ảnh hưởng đến nguồn vốn cho vay ra các chủ thể kinh tế khác, làm đứt gãy mạch máu của nền kinh tế, gây ra khủng hoảng đối với những chủ thể khác. Bên cạnh đó, khi lòng tin của các chủ thể kinh tế bị lung lay, người dân đổ xô đi rút tiền, dòng tiền bị mất thanh khoản, ngân hàng không có khả năng chống đỡ trước những diễn biến bất lợi, hệ thống tài chính vì vậy mà lâm vào khủng hoảng.
Nhận thấy sự nghiêm trọng này, cho đến nay, các cơ quan quản lí Nhà nước đã luôn phải thận trọng trong việc quản lí hoạt động của các NHTM đảm bảo luôn hoạt động ổn định, tránh để xảy ra tác động tiêu cực vĩ mô …( Phan Thị Thu Hà, 2013). Hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp Theo Phan Thị Thu Hà (2013): “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cấp cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng với mục đích xác định trong khoảng thời gian nhất định với cam kết hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng”. Theo Phan Thị Cúc (2008): “Cho vay là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn và tài sản từ Ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định”.
Như vậy, có thể hiểu đơn giản cho vay là giao dịch có sự chuyển giao một hoặc nhiều tài sản giữa NHTM với bên đi vay (bao gồm KHDN, cá nhân, hộ kinh doanh) trong vòng một khoảng thời gian nhất định, theo thỏa thuận của hai bên, đến thời hạn trả, bên vay có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ gốc, lãi thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng đối với TCTD. Ngân hàng tiếp cận đối tượng vay vốn đa dạng, gồm cá nhân, hộ kinh doanh, 11 doanh nghiệp. Trong đó, Doanh nghiệp là khách hàng tiềm năng của NHTM bởi sự lớn mạnh về quy mô lẫn chất lượng, đóng góp lớn vào sự phát triển của nền kinh tế. Chính vì thế, khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp “là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp, theo đó ngân hàng giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.