Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHO HQC SINH LỚP 4 TRONG HQC TAP CHU DE PHAN SO 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Hoạt động học tập Theo A.Leonchiev: "Một hoạt động bao giờ cũng.
nhằm vào đối tượng. Hai hoạt động khác nhau được phân biệt bởi hai đối tượng khác nhau. Hoạt động gắn liền với động cơ và mục đích. Không thể có hoạt động không có động cơ, mục đích.
Một hoạt động bao gồm nhiều hành động thành phần với các mục đích riêng. Thực hiện xong các hoạt động thành phần thì mục dích chung của cả hoạt động cũng được thực hiện”. [10, tr 96] Hoạt động học là một trong những hoạt động của con người. vì thế nó cũng tuân theo cấu trúc tổng quát của hoạt động nói chung.
Học sinh tiến hành hoạt động học nhằm lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội. được thực hiện dưới dạng những tri thức.Krutexki cấu trúc của hoạt động học tập bao gồm các giai đoạn sau: + Giai đoạn định hướng tìm tỏi, nhận thức rõ ràng về nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết. + Giai đoạn lập kế hoạch thực hiện. chọn lựa biện pháp hành động hợp lý nhất.
+ Giai đoạn thực hiện. + Giai đoạn kiểm tra kết quả, sửa chữa sai lầm và đánh giá. “Theo tâm lý học dạy- học hiện đại: Hoạt động học tích cực được đặc trưng bởi nhu cầu, hứng thú và tính tự giác chiếm lĩnh kiến thức. kỹ năng chuyền biến thái độ.
Đối tượng của hoạt động học là tri thức mà người học cần. Trên cơ sở đó hình thành kỹ năng, hành vi, thái độ đúng dắn. Mục tiêu mà hoạt động học hướng tới là chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng. kỹ xảo để hình thành nhân cách.
Do đó, ệc học không thể thực hiện được nếu học sinh chỉ học tập một cách thụ động. máy móc, mà họ phải tích cực bằng chính ý thức tự giác. bằng năng lực, trí tuệ của bản thân. Về khía cạnh tâm lý nhận thức, hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức, nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng.
kỳ xảo, hướng tới làm thay đổi chính bản thân người học. Nội dung của tri thức thường không mới đối với nhân loại, nhưng khi chủ thể chiếm lĩnh được. thì nhờ sự chiếm lĩnh này, tâm lý của chủ thể đã thay đổi và phát triển. Sự tiếp thu này có tính tích cực cao sẽ hình thành được phương pháp tự học cho học sinh.
Nó có vai trò đặc biệt quan trọng giúp các em biết tự học suốt đời. Muốn cho việc tự học đạt kết quả cao, người học phải biết cách học. người dạy phải ý thức được những tri thức cần được hình thành, những kỹ năng, kỹ xảo cần được phát triển ở học sinh. Tính tích cực Theo từ điển 1 ng Việt, tích cực là một trang thai tinh thần có tác dụng khẳng định và thúc đẩy sự phát triển.
Kharlamop: "Tinh tích cực trong hoạt động nhận thức là trang thái hoạt động của học sinh, được đặc trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ với nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức cho chính mình". “Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sóng xã hội. Khác với động vật. con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên.
mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội. Đồng thời sáng tạo ra nền văn hoá của mỗi thời đại, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội. [18, tr 41] Hình thành và phát triển tính tích cực học tập cho học sinh là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng. Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện.
đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục. Tính tích cực trong học tập của học sinh Tiểu học Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động. đặc biệt trong những hoạt động chủ động của chủ thể. Học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học.
Tính tích cực trong hoạt động học tập (gọi tắt là TTC học tập) về thực chất - là tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, có gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo: "Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể, thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề học tập - nhận thức". tr 8] Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện ra những điều loài người chưa biết, mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài người đã tích luỹ được. Tuy nhiên, trong học tập học sinh cũng phải "khám phá" ra những hiểu biết đối với bản thân.
Học sinh sẽ hiểu những gì đã nắm được thông qua hoạt động chủ động. nỗ lực của chính mình. Tính tích cực nhận thức trong học tập liên quan trước hết đến động cơ học tập. Động cơ tạo ra hứng thú, hứng thú là tiền đề của tính tự giác.
Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo. Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập.
sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập. Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì cấp học tiểu học là cấp học nền tâng. Nơi đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn điện nhân cách của con người. Trẻ em từ 6 tuổi bắt đầu bậc học tiểu học.
Mục đích của cấp học này là trang bị cho các em những tr thức sơ đăng về tự nhiên xã hội gần gũi với các em trong cuộc sống, giúp các em phát triển tính linh hoạt. sáng tạo trong học tập và đời sống nhưng vẫn giữ được tình cảm hồn nhiên. ngây thơ của trẻ thơ. Đầu bậc tiêu học, trẻ bắt đầu chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạt động học tập.
Các em chưa có thói quen. kỹ năng, phương pháp học tập mà GV phải thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn. Các nhà tâm lý học cũng đã lưu ý đến đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ em gắn liền với từng lứa tuổi trong quá trình trưởng thành. Mỗi thời kỳ phát triển được đánh đấu bằng những biểu hiện tâm lý đặc thù gọi là các đặc điểm lứa tuổi.
Sự phát triển tâm lý trẻ em rất phức tạp gắn liền với những điều kiện sống. với tác động qua lại giữa đứa trẻ và môi trường, đặc biệt là giáo dục và môi trường giáo dục. Các đặc điểm lứa tuôi bao gồm: 1. Trả giác Tri giác của HS tiểu học mang tinh chat dai thé, ít đi sâu vào chỉ tiết và mang tính không chủ định.
Do đó, các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, đễ mắc sai lầm. có khi còn lẫn lộn. Theo nhà tâm lý học V.Cruchộtxki thì những bức tranh có màu sắc sặc sỡ trong sách có ảnh hưởng không tốt đến sự học tập bởi tính cảm xúc ở HS tiểu học thể hiện rất rõ khi các em tri giác. Tri giác trước hết là những sự vật, những.
dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các em những xúc cảm. cái rực rỡ, cái sinh dộng được các em tri giác tốt hơn, đễ gây ấn tượng tích cực cho chúng. tr 77] Tri giác không tự bản thân nó phát triển được. Trong quá trình học tập.
khi trí giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích. có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính chất của sự quan sát có tổ chức. Vai trò của giáo viên tiểu học rất lớn trong quá trình phát triển trỉ giác của HS tiểu học. Chú ý Ở lứa tuổi HS tiểu học.
chú ý có chủ định của các em còn yếu. điều chỉnh chú ý một cách có ý chí cũng hạn chế. Sự chú ý của HS đòi hỏi một động cơ gần thúc đẩy. Chú ý không chủ định được phát triển.
tính mới mẻ, bất ngờ. khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em, không có sự nỗ lực của ý chí. Vì vậy, việc sử dụng đồ dùng dạy học như tranh ảnh. hình vẽ, biểu đồ.
mô hình vật thật. là điều kiện quan trọng đề tổ chức sự chú ý. Như vậy nhu cầu. hứng thứ có thể kích thích và duy trì được chú ý không.
chủ định cho nên mỗi giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học được hấp dẫn và lý thú. Tuy nhiên, cần rèn luyện cho HS chú ý cả đối sự vật, hiện tượng, công việc không gây được chúý trực tiếp, chưa phải lý thú lắm.Usinxi đã nói: “Ban hay nhớ rằng trong việc học tập không phải tắt ca đều trở thành lý thú. mà nhất định sẽ có những điều nhàm chán. hãy rèn luyện cho trẻ không.
chỉ quen làm cái gì mà trẻ hứng thú mà còn quen làm cả những cái không lý thú nữa”. Trí nhớ Ở lứa tuổi này trí nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - logic. Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng. Cho nên cũng dễ hiểu các em thường học thuộc lòng tài liệu học tập theo đúng câu, từng chữ mà không sắp xếp lại, sửa đổi, diễn đạt lại bằng lời lẽ của mình.
Đặc diễm này đo 4 nguyên nhân sau : + Ghi nhớ máy móc của các em thường chiếm ưu thế. + IIS chưa hiểu cụ thê cần phải nhớ cái gì. bao lâu ? + Ngôn ngữ của các em còn hạn chế. + Có nhiều em còn chưa biết cách tô chức việc ghi nhớ có ý nghĩa.
chưa biết dựa vào các điểm tựa đề ghi nhớ. Tưông trợng Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng của học sinh tiểu học. Tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển trong hoạt động học của các em. Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển hơn và phong phú hon so với trẻ em chưa đến trường nhưng vẫn còn tản mạn.
Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đồi hưa bền vững.