CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU. Giới thiệu vé phuong pháp nuôi cấy mô tế bào thực vat. Cơ sở khoa học của nu y mô tê bào thực vật 1. Tính toàn năng của tế bào.
Khả năng biệt hóa và phản biệt hóa của tế bào. Sự trẻ hoá.Giới thiệu về hoa chuông.Nguễn gốc và phân loại 1. Đặc điểm thực vật.Yêu cầu ngoại cảnh 1. Tình hình sản xuắt, tiêu thụ hoa chuông trên thế gị và ở Việt Nam.
Trên thế giới 1. Lịch sử nhân giống hoa chuông in vitro. CHUONG 2: VAT LIEU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Vật liệu nghiên cứu 2.
Vật liệu khởi đầu. Dụng cụ, thiết bị. Quy trình nuôi 16 2. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp chọn mẫu và khử trùng mẫu cấy. Cách chọn mẫu cấy .2 Khử trùng mẫu 18 2. Phương pháp đưa mâu cây vào môi trường khởi 2. Phương pháp tái sinh chai.Phương pháp nhân nhanh chéi 2.Phương pháp tạo rễ cây 2.
Điều kiện nuôi cá 2. Các chỉ tiêu quan sát. Các chỉ tiêu khảo sát. Chương 3: KẾT QUÁ VÀ THẢO LUẬN 3.
Ảnh hưởng của chất khử trùng, 3. Ảnh hưởng của Javel đến mẫu cấy. Ảnh hưởng của Javel và Tween đến mẫu cấy 3. Ảnh hưởng của nằng độ BA đến khả năng tạo ch 3.
Ảnh hưởng của Auxin đến khả năng ra rễ của của mẫu cấy. Ảnh hưởng của nềng độ IBA đến khả năng tạo rễ của mẫu c 3. Ảnh hưởng của nềng độ NAA đến khả năng tạo rễ của mẫu 3. So sánh khả năng tạo rễ của NAA va IBA.
KÉT LUẬN VÀ KIÊN NGHỊ. Sau thời gian thực hiệ nhu sau 3. TAI LIEU THAM KHẢO. Lý đo chon dé tai Nuôi cấy mô tế bào thực vật là ngành khoa học đang được phát triển mạnh hiện nay.
Bằng các kĩ thuật nuôi cấy trong điều kiện vô trùng các bộ phận tách rời ở thực vật (lá, thân, nụ.) người ta đã nhân giếng thành công nhiễu loài thực vật. Đem lại nguễn giếng cây trồng với số lượng lớn, chất lượng tốt, hạn chế nhiễm bệnh từ cây mẹ. So với phương pháp truyền thống, thì nuôi cấy mô tế bào thực vật có nhiều ưu điểm hơn như giúp tạo giếng một số loài cây quý hiếm, cây có thời gian sinh sản kéo dài. Ở Việt Nam, hoa chuông là một trong những loại hoa mới được nhập nội với nhiều ưu điểm: màu sắc, hình đáng hoa đa dạng, hương thơm thanh dịu, độ bên tự nhiên của hoa đài và được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như: trang trí trong nhà, ban công, công viên, công sở,.
Do vậy, hoa chuông đã nhanh chóng trở thành một trong những loài hoa nhập nội có giá trị, đáp ứng được xu hướng ưa thích các loài hoa mới lạ của người chơi hoa và sự quan tâm của người trồng hoa. Tuy nhiên, nguồn cây giống đang được sử dụng tại Việt Nam chủ yếu là ở đạng hạt (nhập nội từ Trung Quốc), chất lượng cây giếng không cao cây bị phân ly, tỷ lệ mọc thấp,.) và không chủ động. Vì vậy, diện tích trồng hoa chuông còn rất ít, chủ yếu phục vụ cho công tác nghiên cứu ở các Trường Đại học, Viện nghiên cứu,. ở Hà Nội và Thành phố Hỗ Chí Minh.
Cây hoa chuông trong tự nhiên có thể được nhân giống bằng hạt, đoạn thân, lá và củ. Các phương pháp nhân giếng truyền thống này thường cho hệ số nhân thấp, cần số lượng lớn cây bố mẹ, tốn thời gian, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và cây giống dễ bị thoái hóa qua quá trình canh tác lâu đài. Để khắc phục những hạn chế của các phương pháp nhân giếng truyền thống và đảm bảo nguồn cung cấp cây giống có chất lượng cao cho người sản xuất. Phương pháp nhân giếng vô tính bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào là phương pháp nhân giống đem lại hiệu quả kinh tế cao và số lượng lớn giếng.
Hiện nay, ở Quảng Nam có nhu cầu trồng hoa Chuông với số lượng lớn vào dịp tết rất cao. Người đân đa số nhập giống hoa Chuông iu virø ở miền Nam về 1 để trồng vì giếng đồng đều về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, do vận chuyển đường đài nên tốn kém và mẫu giống bị ảnh hưởng đến số lượng chất lượng. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi thực hiện để tài “Ứng đụng công nghệ nuôi cấy mô thực vật để nhân giống cây hoa chuông (Sinningia speciosa)”.
Mục tiêu của để tài - Xác định nằng độ nước Javel, Tween 80 và thời gian khử trùng thích hợp mẫu cấy hoa chuông. - Tìm ra nềng độ BA thích hợp cho quá trình mọc chổi từ lá của hoa chuông. - Xác định nồng độ thích hợp của BA và NAA đến quá trình nhân nhanh. - Xác định nềng độ thích hợp của IBA đến quá trình tạo rễ và tạo cây hoàn chỉnh.
- Xác định nông đệ thích hợp của NAA đến quá trình tạo rễ và tạo cây hoàn chỉnh. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối trợng: Hoa chuông - Phạm vi nghiên cứu: Tại Trung tâm ứng dụng và thông tin KHCN Quảng Nam. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thực nghiệm: Các thí nghiệm được tiến hành tại Trung tâm ứng dụng và thông tin KHCN Quảng Nam. - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu tài liệu, sách báo, internet.
- Phương pháp thống kê và xử lí số liệu. NOI DUNG CHUONG 1: TONG QUAN TAI LIEU 1. Giới thiệu vé phuong pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật 1. Khái niện Nuôi cấy mô tế bào thực vật là thuật ngữ được dùng một cách rộng rai dé nói về việc mô tả các phương thức nuôi cấy các bộ phận thực vật (tế bào đơn, mô, cơ quan) trong ống nghiệm có chứa môi trường xác định ở điều kiện vô trùng.
Mục đích chung của nuôi cấy mô tế bào thực vật là sử dụng các điều kiện như: nhiệt độ, ánh sáng, thành phần dinh dưỡng, các chất điều hoà sinh trưởng thực vật. để điều khiển quá trình sinh trưởng và phát triển của tế bào, mô nuôi cấy theo mục tiêu và yêu cầu đặt ra. Nuôi cấy mô tế bào thực vật cồn là một phương pháp nghiên cứu hiệu quả nhất quá trình phát sinh hình thái ở nhiều loài thực vật. Phương pháp này giúp mở ra những hướng mới trong nghiên cứu sinh lý và di truyền thực vật như: cơ chế sinh tổng hợp các chất, sinh lý phân tử - đột biến, sinh lý dinh dưỡng ở tế bào thực vật và nhiều vấn để sinh học khac.[1] Tat cả dạng nuôi cấy mô đều được tiến hành qua hai bước: -_ Các phần của thực vật hoặc một cơ quan thực vật nào đó được tách ra khỏi phần còn lại.
Đó là sự tách rời tế bào, mô hay cơ quan đang tương tác lẫn nhau trong một tổ chức thực vật nguyên vẹn. -_ Các phần tách ra nói trên phải đặt trong môi trường thích hợp để nó có thé biểu lộ hết bản chất hoặc khả năng đáp ứng của nó. Cơ sở khoa học của nuôi cấy mô tễ bào thực vật 1. Tinh toàn năng của tế bao.
Mãi tế bào đều mang đầy đủ lượng thông tỉn di truyền của cơ thể và có khả năng phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh khi gặp điều kiện thuận lợi. Gottlibeb Haberlant (1902) nhà thực vật học người Đức đã đặ nén méng đầu tiên cho nuôi cấy mô tế bào thực vật. Ông đã đưa ra giả thuyết về tính toàn năng của tế bào trong cuốn sách "Thực nghiệm về nuôi cấy tách rời". Theo ông: “Tế bao bat kỳ của cơ thể sinh vật nào cũng đều mang toàn bộ lượng thông tin di truyền (DNA) cần thiết và đủ của cả sinh vật đó.
Khi gặp điều kiện thích hợp, mỗi tế bào đều có thể phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh”. Tính toàn năng của tế bào mà Haberlandt nêu ra chính là cơ sở lý luận của phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật. Cho đến nay, các nhà khoa học đã chứng minh được khả năng tái sinh một cơ thể thực vật hoàn chỉnh từ một tế bào riêng rẽ. Khả năng biệt hóa và phản biệt hóa của tế bào Biệt hóa là sự biến đổi của tế bào từ trạng thái tế bào phôi cho đến khi thể hiện một chức năng nào đó.
Các tế bào dùng trong nuôi cấy đều đã biệt hóa về cấu trúc và chức năng từ tế bào phôi. Trong những điều kiện thích hợp, có thể làm cho những tế bào này quay trở lại trạng thái của tế bào đầu tiên đã sinh ra chúng - tế bào phôi và quá. trình đó gợi là quá trình phản biệt hóa. Trong cùng một cơ thể, mỗi loại tế bào đều có khả năng biệt hóa, phản biệt hóa và vì thế triển vọng nuôi cấy thành công cũng khác nhau.
Những tế bào càng chuyên hóa về một chức năng nào đó (đã biệt hóa sâu) thì càng khó xảy ra quá trình phản biệt hóa, như các tế bào mạch dẫn của hệ thống mạch dẫn ở thực vật, tế bào. Người ta đã tổng kết rằng; những tế bào càng gần với trạng thái của tế bào phôi bao nhiêu thì khả năng nuôi cấy thành công càng cao bấy nhiêu. Đối với các loài thực vật thì các tế bào phôi non, các tế bào mô phân sinh, các tế bào của cơ quan sinh sản (hạt phấn, noãn) rất đễ xảy ra quá trình phản biệt hóa. Vì vậy, nói một cách hình tuong nhu Galson (1986) va Murashige (1974) thì khả năng hình thành cơ quan hay cơ thể của các tế bào thực vật là giảm dan theo chiều hướng từ ngọn xuống gốc.
Sự trẻ hoá Khả năng ra chải, rễ ở các thành phan co quan thực vật là rất khác nhau. Vì vậy để chọn mẫu cấy phù hợp phải căn cứ vào trạng thái sinh lý hay tuổi mẫu. Trong nuôi cấy mô TBTV ( hay còn gọi là nudi cdy in vitro), các mau non trẻ có sự phản ứng với các điều kiện và môi trường nuôi cấy nhanh, dễ tái sinh, đặc biệt trong nuôi cấy mô sẹo, phôi. Ngoài ra mô non trẻ mới được hình thành, sinh trưởng mạnh, mức độ nhiễm mầm bệnh ít hon[1].Giới thiệu về hoa chuông 1.Nguôn gốc và phân loại Cây hoa chuông được phát hiện đầu tiên ở vùng rừng nhiệt đới Brazil vào năm 1785.
Năm 1815, hoa chuông được trồng ở Anh. Năm 1817, người làm vườn ở Anh tên là Conrad Loddiges đặt ten hoa chuéng la Gloxinia speciosa (G. Người công bế thông tin về cây hoa chuông là con trai của George Loddige tên là Conrad Loddiges để vinh danh nhà thực vật học người Đức Benjamin Peter Gloxin (1765-1794). Năm 1825, hoa chuông được Conrad Loddiges đổi tên từ Gloxinia speciosa thanh tên mới là Sinningia speciosa đề đúng định danh thuộc loài S.