Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2: Vận dụng biện pháp tương tác vào dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm B. NOLDUNG CHUONG I: Co sé li luan va co sé thy tiễn của việc vận dụng biện pháp tương tác. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm về tương tác Tương tác là sự tác động qua lại lẫn nhau,có ảnh hưởng đến nhau.
Trong dạy học thì tương tác có nghĩa là trong quá trình dạy học có sự tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh,giữa học sinh với học sinh,giữa học sinh với giáo viên. Phương pháp dạy học tương tác là phương pháp tạo ra sự tác động qua lại trực tiếp giữa người dạy và người học của lớp học trong một tiết học cụ thể,nhằm giúp các em tự mình lĩnh hội được tri thức,bởi vì bản thân học sinh chính là nhân tố trực tiếp quyết định đầu tiên. Với phương pháp này,giáo viên chỉ hướng dẫn các em cách học còn mỗi em học sinh phải tự mình nỗ lực đẻ lĩnh hội kiến thức. Phương pháp dạy học tương tác được hình thành bởi các nhân tố: người đạy-người học-môi trường.
Tương tác trong sư phạm. Tương tác trong sư phạm là hệ thống những tác động qua lại lẫn nhau giữa nhiều yếu tố nhằm mục địch hình thành tri thức, kĩ năng tương ứng và hòan thiện đạo đức cho con người. Phương pháp tương tác sư phạm xem người học là thợ chính còn người dạy là người hướng dẫn. Đòi hỏi người dạy phải lên kế hoạch day học với tư cách là người hướng dẫn, phải xây dựng kế hoạch bài học, tổ chức thực hiện nó và hợp tác cùng học sinh trong quá trình học sinh thực hiện theo kế hoạch dạy học.
Dạy học tương tác là sự kết hợp của nhiều phương pháp dạy học tích cực khác nhau, nhằm tạo ra sự cộng hưởng, tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân tố trong lớp học: người dạy - người học - môi trường. Phải vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo và phù hợp các phương pháp như: thảo luận nhóm, tô chức trò chơi, cho học sinh tập đóng vai. Đó là những phương pháp giúp học sinh tích cực và chủ động hơn trong quá trình học, tạo ra được hứng thú, không khí vui tươi trong lớp học. Thông qua việc cho các em làm việc theo nhóm, chơi trò chơi, đóng vai.các em sẽ hợp tác với nhau, tác động lẫn nhau, cùng nhau trao đổi, thảo luận để hoàn thành nhiệm vụ giáo viên đưa ra.
Từ đó sự tương tác trong lớp học được phát huy, và thực hiện theo đúng yêu cầu đề ra đó là lấy người học làm trung tâm. Môn Tiếng Việt (TV) ng Việt là một trong những môn học chính khóa ở trường Tiểu học. Môn học này gồm có bảy phân môn : Hoc van, Tap doc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn được giảng dạy trong chương trình Tiểu học từ khối lớp một đến khối lớp năm. Mục đích của việc dạy và học của Tiếng Việt là dạy cho trẻ biết sử dụng Tiếng Việt văn hóa để giao tiếp và mở rộng hiểu biết thông qua các kĩ năng nghe, nói đọc viết thông qua các giờ dạy.
Môn học nảy có nhiệm vụ phát triển năng lực trí tuệ của trẻ, rèn luyện cho các em phương pháp suy nghĩ, giáo dục cho các em những tình cảm mới. Phân môn Luyện từ và câu (LTVC) Luyện từ và câu là một trong bảy phân môn của Tiếng Việt. Việc dạy luyện từ và câu cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu thể hiện tư tưởng, tình cảm 1. Người học, người dạy và môi trường.
Người học Người học là tất cả học sinh-những người có nhu cầu học hỏi để mang lại cho mình những kiến thức,những kĩ năng kĩ xảo để giúp ích cho cuộc sống,cho xã hội. Người học không phải chỉ là một chiếc máy thu,một vật vô tri vô giác chỉ biêt lắng nghe những gì thầy cô giảng day mà trong quá trình học họ phải tự mình nghiên cứu đề tìm ra kiến thức,phát huy hết khả năng của mình. Người dạy Người dạy là người truyền đạt kiến thức cho học sinh,tuy nhiên việc truyền đạt kiến thức ở đây không phải chỉ truyền đạt bằng miệng mà phải tìm ra cách thức giảng dạy có hiệu quả. Người thầy ở đây có trách nhiệm định hướng cho học sinh cách học dé giúp các em tự mình đi tìm ra kiến thức chứ không phải truyền đạt kiến thức có sẵn cho các em tiếp thu 1.
Môi trường Môi trường ở đây không chỉ là những điều kiện vật chất như: trường học, bàn ghế, dụng cụ học tập. mà môi trường còn là bầu không khí trong lớp học do chính người giáo viên tạo ra để mạng lại cho học sinh sự hứng thú trong tiết học,giúp cho giữa giáo viên và học sinh luôn cởi mở, vui vẻ tạo điều kiện để trẻ có thể trình bày những suy nghĩ,ý tưởng của mình một cách thỏa mái. Hiện nay ở một số trường tiểu học được trang bị bảng điện tử tương tác Activboar dé phuc vu cho việc day học. Đây là công cụ rất quan trọng không thể thiếu trong việc xây dựng một lớp học tương tác.
Loại bảng này có chức năng của màn hình tiếp xúc trực tiếp, cho phép người sử dụng dùng bút thể hiện tự do những nội dung cần trình bày và kết nối được với các môi trường mạng, Internet. Các giáo viên và học sinh các cấp đều có thể dùng hệ thống này để xây dựng, tiếp cận các bài giảng điện tử, giáo án hay các thư viện số hóa trên mạng; trình bày những cuộc thảo luận nhóm, trắc nghiệm trực tiếp nhờ những phần mềm đi kèm. Thông qua bảng tương tác các em dễ dàng thao tác trực tiếp lên bài tập của mình, các em có thể chỉ trực tiếp lên màng hình để trả lời câu hỏi, khoanh vùng hoặc đánh dấu những ý cơ bản mà các em muốn lưu ý. Điều này kích thích hứng thú và thu hút sự chú ý của học sinh,đặc biệt là học sinh tiểu học.
Để quá trình day- học thu hút sự chú ý và hứng thú của người học thì các yếu tố : người dạy- người học- môi trường cần có sự kết hợp chặt chẽ. Mối quan hệ của bộ ba này được thể hiện qua bảng sau: Sự phối hợp bộ ba tác nhân, chức năng và thao tác theo biện pháp tương tác Tác nhân Chức năng Thao tac Người dạy Giúp đỡ Phương pháp dạy Người học Học Phương pháp học Môi trường, Ảnh hưởng Ảnh hưởng của môi trường 1. Một số vấn đề về phân môn LTVC 1. Vị trí, nhiệm vụ ca dạy học phân môn LTVC 1.
Vị trí của phân môn LTVC Từ và câu có vai trò đặc biệt trong hệ thống ngôn ngữ. Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiệ chức năng giao tiếp. Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm quan trọng của dạy học LTVC ở Tiểu học.
Việc dạy LTVC nhằm mở rộng, hệ thống hóa phong phú vốn từ của học sinh (HS), cung cấp cho HS những hiểu biết sơ giản vẻ từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời có khả năng hiểu và sử dụng các kiểu câu của người khác nói trong hoàn cảnh giao tiếp nhất định. LTVC có vai trò hướng dẫn HS trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ. Nhiệm vụ của phân môn LTVC - Làm giàu vốn từ cho HS và phát triển năng lực dùng từ đặt câu cho các cm + Dạy nghĩa từ Làm cho HS nắm nghĩa của từ bao gồm việc thêm vào vốn từ của HS những từ mới và những nghĩa mới của từ đã biết, làm cho các em nấm được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ. Dạy từ ngữ phái hình thành những khả năng phát hiện ra những từ mới chưa biết trong văn bản cần tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa của từ, phát hiện ra những nghĩa mới của từ đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong những ngữ cảnh khác nhau.
+ Hệ thống hóa vốn từ Dạy HS biết cách sắp xếp các từ một cách có hệ thống trong trí nhớ để tích lũy từ được nhanh chóng và tạo ra tính thường trực của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi. Công việc này hình thành ở HS kĩ năng đối chiếu từ trong hệ thống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống liên tưởng cùng chủ đề, đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo,. tức là kĩ năng liên tưởng dé huy động vốn từ. 9 + Tích cực hóa vốn từ Dạy cho HS sử dụng từ, phát triển kĩ năng sử dụng từ trong lời nói và lời viết của mình, đưa từ vào trong vốn từ tích cực được HS dùng thường xuyên.
Tích cực hóa vốn từ là dạy cho HS biết cách dùng từ ngữ trong nói năng của mình. + Dạy HS biết cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng mẫu phù hợp với hoàn cảnh, mục đích giao. tiếp - Trên cơ sở vốn ngôn ngữ trước khi đến trường, từ những hiện tượng cụ thể của tiếng me dé, phân môn LTVC cung cấp cho HS một số kiến thức về từ và câu cơ bản, sơ giản, cần thiết và vừa sức với các em. LTVC trang bị cho HS những hiểu biết về cấu trúc của từ, câu, quy luật hành chức của chúng.
Cụ thể đó là các kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ,các lớp từ, từ loại, các kiến thức về câu như cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp. LTVC còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy và giáo dục thẫm mĩ cho HS. Mục tiêu dạy học phân môn LTVC của học sinh lớp 4 Mở rộng, hệ thống hóa vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu. Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu, có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp.
Nội dung dạy học phân môn LTVC của học sỉnh lớp 4.