MỞ ĐẦU CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CHƢƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Mô hình và các nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây Từ đầu những năm 70 của thế kỷ trƣớc, các nhà kinh tế đã đƣa ra các mô hình nhằm xác định các yếu tố tác động đến số thu thuế theo phần trăm trong GDP (hoặc GNP) của quốc gia. Mô hình cơ bản thƣờng đƣợc các nhà nghiên cứu sử dụng có dạng: T/Y = f(Xi. Xn, U) Trong đó T là tổng số thu thuế, Y đại diện cho thu nhập (tổng sản phẩm nội địa GDP hoặc tổng sản phẩm quốc dân GNP), T/Y là tỷ lệ phần trăm tổng số thu thuế trong thu nhập.n) đại diện cho các biến độc lập khác nhau dự kiến có ảnh hƣởng đến tỷ lệ phần trăm tổng số thu thuế trong thu nhập và U là sai số. Từ đó đến nay, đã có nhiều nghiên cứu mở rộng và phát hiện thêm nhiều yếu tố mới về kinh tế, thể chế, xã hội có tƣơng quan với biến số T/Y.
Đặc biệt trong hơn một thập kỷ gần đây, hàng loạt các nhà nghiên cứu đã xây dựng mô hình nghiên cứu sử dụng các phƣơng pháp đem lại hiệu quả ƣớc lƣợng cao hơn nhƣ GMM, đào sâu vào các khía cạnh chính trị, xã hội, đạo đức thuế cũng nhƣ so sánh nỗ lực thu thuế của nhiều khu vực địa lý và nhóm thu nhập khác nhau trên thế giới. Các nhà nghiên cứu này đã phát hiện các yếu tố chính có mối tƣơng quan với nỗ lực thu thuế là trình độ phát triển, thƣờng đƣợc đại diện bằng tổng sản phẩm trong nƣớc bình quân đầu ngƣời (Gupta, 2007; Pessino và Fenochietto, 2010), chuyên môn hóa sản xuất, hoặc cấu trúc của nền kinh tế, có thể đƣợc phát hiện thông qua các thành phần cấu thành của GDP (Piancastelli, 2001; Karagöz, 2013), các yếu tố bên ngoài nhƣ mức độ đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) và thƣơng mại (Cassou, 1997; Gupta, 2007; Bird et al, 2008. Các yếu tố khác gồm có mức độ nợ công (Teera và Hudson, 2004) và chính sách công, bao gồm tỷ giá hối đoái, kiểm soát lạm phát và chính sách tài chính (Tanzi, 1988). Hiệu quả của chính phủ và các yếu tố thể chế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 nhƣ sự ổn định chính trị, quyền tự do ngôn luận, dân chủ và quyền lực chính trị cũng đƣợc coi là yếu tố quyết định số thu thuế (Bird et al, 2008; Martin-Mayoral và Uribe, 2010).
Một số nghiên cứu đã tìm hiểu tác động của biến xã hội nhƣ trình độ học vấn - đƣợc đo theo chi tiêu công cho giáo dục hay tỷ lệ mù chữ (Pessino và Fenochietto, 2010; Piancastelli, 2001) và tăng trƣởng dân số (Bahl và Wallace, 2005). Một số nghiên cứu nổi bật đƣợc trình bày tóm tắt nhƣ dƣới đây. Piancastelli (2001) ƣớc lƣợng nỗ lực thu thuế ở 75 quốc gia bao gồm cả các quốc gia phát triển và đang phát triển trong giai đoạn 1985/95. Các quốc gia lấy mẫu đƣợc chia làm ba nhóm: 31 quốc gia thu nhập thấp, 19 quốc gia thu nhập trung bình và 25 quốc gia thu nhập cao.
Tác giả đề xuất biến phụ thuộc là phần trăm tổng số thu thuế trong GDP, các biến độc lập gồm tổng sản phẩm quốc dân GNP bình quân đầu ngƣời, thƣơng mại/GDP, nông nghiệp/GDP, công nghiệp/GDP, dịch vụ/GDP. Ƣớc lƣợng thông qua Fixed effects và Random effects, kết quả đƣa ra gợi ý: thu nhập bình quân đầu ngƣời, tỷ trọng thƣơng mại trên GDP và tỷ trọng nông nghiệp trong GDP là những biến phù hợp nhất để giải thích tỷ trọng thuế trên GDP. Trong bài viết này, chỉ số nỗ lực về thuế cho bất kỳ quốc gia nào thƣờng đƣợc tính bằng tỉ số của tỷ lệ thuế thực tế so với tỷ lệ dự đoán. Điều này chủ yếu phản ánh sự chênh lệch về khả năng thu thuế của một quốc gia.
Chỉ số nỗ lực thuế cao cho thấy một quốc gia cụ thể đang thu thuế nhiều hơn dự đoán, với cơ cấu thuế và các điều kiện kinh tế xã hội hiện tại. Việc so sánh tỷ trọng thuế trên GDP và nỗ lực thuế đƣợc thực hiện giữa các nƣớc phát triển và đang phát triển theo các nhóm thu nhập và các châu lục khác nhau. Từ đó tác giả chỉ ra rằng hiệu suất thu thuế ở các nƣớc có thu nhập trung bình thấp hơn ở các nƣớc thu nhập cao và các nƣớc thu nhập thấp. Eltony (2002) sử dụng dữ liệu giai đoạn 1994 – 2000 của 16 nƣớc Arab.
Biến đƣợc giải thích là tỷ trọng thuế trong GDP, các biến giải thích đƣợc xem xét là thu nhập bình quân đầu ngƣời, tỷ trọng ngành nông nghiệp, khai thác mỏ, ngành sản xuất trong GDP, tỷ trọng xuất khẩu và nhập khẩu trong GDP và nợ nƣớc ngoài. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình Fixed effects và xác định các yếu tố tác động đến số thu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 thuế là thu nhập bình quân đầu ngƣời, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và tỷ trọng khai thác mỏ trong GDP. Một số biến khác cũng khá quan trọng nhƣ tỷ trọng xuất khẩu, nhập khẩu và nợ nƣớc ngoài. Ngoài ra, tác giả cũng nhấn mạnh rằng mô hình đã thiếu sót khi không xét đến các yếu tố đặc biệt đặc trƣng cho từng quốc gia nhƣ hệ thống chính trị, thái độ đối với chính phủ, chất lƣợng quản lý thuế và các yếu tố thể chế khác.
Qua quan sát chỉ số nỗ lực thuế, tác giả kết luận một số nƣớc Ả Rập đã tăng đáng kể nỗ lực thu thuế trong các năm gần đây trong khi một số nƣớc khác có dấu hiệu suy giảm. Các biện pháp tăng nỗ lực thuế sẽ ảnh hƣởng đến chính sách tài khóa trong trƣờng hợp ngân sách bị mất cân bằng. Agbeyegbe, Stotsky và WoldeMariam (2004) tìm bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa tự do hoá thƣơng mại, tỷ giá hối đoái và số thu thuế. Sử dụng dữ liệu bảng của 22 quốc gia ở Châu Phi vùng hạ Sahara, trong giai đoạn 1980-1996, các tác giả thực hiện phƣơng pháp Generalized Method of Moments (GMM) để kiểm tra mối quan hệ này.
Kết quả tìm thấy bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa tự do hóa thƣơng mại (hay các cách đo lƣờng khác đƣợc sử dụng để đại diện cho tự do hóa thƣơng mại) và số thu thuế là khá nhạy cảm, nhƣng nói chung, tự do hóa thƣơng mại không liên quan chặt chẽ đến tổng số thu thuế hoặc các thành phần trong tổng số thu thuế. Sự tăng giá tiền tệ và lạm phát cao hơn dẫn số thu thuế hoặc thành phần của số thu thuế thấp hơn. Các kết quả này cho thấy sự nhất quán một phần với những phát hiện trƣớc đây và ủng hộ quan điểm cho rằng tự do hóa thƣơng mại kèm theo các chính sách kinh tế vĩ mô thích hợp có thể đƣợc thực hiện theo cách bảo toàn tổng thu nhập. Gupta (2007) sử dụng dữ liệu bảng cho 105 quốc gia đang phát triển qua 25 năm.
Dự liệu các biến đƣợc lấy từ các nguồn nhƣ Government Financial Statistics (GFS), WEO Economic Trends in Africa (WETA), International Financial Statistics (IFS) và World Development Indicators (WDI). Trong đó, biến phụ thuộc thu ngân sách của chính phủ trung ƣơng (% GDP) đƣợc phân tích thành các biến cụ thể hơn nhƣ thuế từ hàng hóa và dịch vụ, thuế từ thu nhập, lợi tức và chuyển nhƣợng vốn, thuế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 từ thƣơng mại, thuế từ xuất khẩu. Các biến độc lập bao gồm GDP bình quân đầu ngƣời, % trong GDP của giá trị gia tăng ngành nông nghiệp, xuất khẩu, % trong GNI của viện trợ và nợ, độ ổn định chính trị, ổn định kinh tế, tham nhũng, luật pháp, ổn định của chính phủ và thuế suất trung bình. Bằng các phƣơng pháp Difference - Generalized Method of Moments (Difference-GMM) và System - Generalized Method of Moments (System-GMM), nghiên cứu xác định rằng các biến cấu trúc nhƣ GDP bình quân đầu ngƣời, tỷ trọng nông nghiệp/GDP, độ mở thƣơng mại và viện trợ nƣớc ngoài tác động mạnh tới số thu thuế.
Nợ nƣớc ngoài không có tác động đáng kể tới số thu thuế trong khi tham nhũng tác động mạnh tới số thu thuế. Ngoài ra, nghiên cứu còn phát hiện ra rằng các quốc gia phụ thuộc vào thuế hàng hóa và dịch vụ có số thu thuế khá thấp, trong khi các quốc gia dựa vào thuế thu nhập, thuế lợi tức có số thu thuế tốt hơn rất nhiều. Báo cáo cũng sử dụng chỉ số hiệu quả thu thuế và nhận thấy rằng trong khi một số quốc gia châu Phi thuộc Tiểu vùng Sahara đang hoạt động tốt hơn tiềm năng của mình trong việc thu thuế thì một số nền kinh tế Mỹ Latinh lại thiếu khả năng thu thuế. Bird, Martínez-Vázquez và Torgler (2008), tiến hành nghiên cứu để trả lời câu hỏi “Các quốc gia kém phát triển có thể học hỏi cách đánh thuế không?”.
Nền tảng của câu hỏi này là giả định rằng nếu một nƣớc muốn trở thành “phát triển”, nó cần thu thuế ở mức gần 25-30% GDP so với 10-15% ở nhiều nƣớc đang phát triển. Sử dụng mô hình OLS, 2SLS với biến phụ thuộc thể hiện nỗ lực thu thuế của các quốc gia đƣợc đo lƣờng bằng tỷ trọng số thu thuế trong GDP, biến độc lập gồm các yếu tố GDP bình quân đầu ngƣời, tỷ trọng các ngành không phải nông nghiệp trong GDP, các chỉ số đo lƣờng tiếng nói/ trách nhiệm giải trình và tham nhũng, biến dummy để phân biệt các nƣớc Mỹ Latinh và các nƣớc đang phát triển khác. Báo cáo chỉ ra rằng để cải thiện khả năng thu thuế, việc cải thiện tham nhũng, tiếng nói của chính quyền và trách nhiệm giải trình có thể không mất nhiều thời gian và cũng không khó khăn hơn là thay đổi cơ hội để xử lý thuế và cơ cấu kinh tế. Báo cáo cũng kết luận các nƣớc có thu nhập cao có tiềm năng cải thiện hiệu quả thuế thông qua cải thiện thể chế của mình.
Sự đóng góp quan trọng của bài báo này là mở rộng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 mô hình áp dụng thuế thông thƣờng bằng cách cho thấy rằng các yếu tố tham nhũng, tiếng nói của chính quyền và trách nhiệm giải trình cũng xác định nỗ lực về thuế ở mức độ đáng kể. Mahdavi (2008) lập luận rằng cải cách thuế ở các nƣớc đang phát triển nhất thiết phải bao gồm việc thay đổi mức thu nhập và/hoặc thành phần thuế.