Chương 1 chỉ ra tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc phân tích các yếu tố tác động đến quyết định đầu tư vốn của nhà đầu tư cá nhân đối với các doanh nghiệp sản xuất niềm yết trên HOSE. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, đề tài đưa ra 7 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được giải quyết thông qua 03 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Tiếp theo, đề tài trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vốn của nhà đầu tư cá nhân vào doanh nghiệp sản xuất trên HOSE. Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên nền tảng thừa kế và mở rộng các nghiên cứu trước đó để cập nhật các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn có thể thay đổi thời gian.
Cuối cùng, chương này trình bày kết cấu khoá luận gồm 05 chương và sơ lược về nội dung chính của mỗi chương. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT Chương 2 sẽ trình bày một số cơ sở lý thuyết, và các nghiên cứu trong và ngoài nước về sự ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định quyết định đầu tư vốn của nhà đầu tư cá nhân. Qua đó, chương này sẽ thảo luận để xác định, thiết kế mô hình nghiên cứu cụ thể cho trường hợp tại doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên HOSE. Doanh nghiệp sản xuất Doanh nghiệp sản xuất là những doanh nghiệp sử dụng nguồn lực, tư liệu sản xuất kết hợp với ứng dụng khoa học công nghệ để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường.
Quá trình sản xuất của một doanh nghiệp là sự kết hợp giữa ba yếu tố cơ bản: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động để tạo ra sản phẩm. Sức lao động: là khả năng của lao động; là tổng thể việc kết hợp, sử dụng thể lực và trí lực của con người trong quá trình lao động. Đối tượng lao động: là bộ phận của giới tự nhiên mà hoạt động lao động của con người tác động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình. Tư liệu lao động: là một vật hay các vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người.
Doanh nghiệp sản xuất có những đặc trưng sau: Một là, quyết định sản xuất của doanh nghiệp dựa trên những vấn đề chính như: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết để làm ra sản phẩm? Hai là, quy trình sản xuất là một chuỗi các công việc được thực hiện theo thứ tự để tạo ra sản phẩm trên cơ sở kết hợp: nguyên vật liệu; nhân công; máy móc thiết bị; năng lượng và các yếu tố khác. Ba là, chi phí sản xuất là các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu; chi phí nhân công; chi phí khấu hao máy móc nhà xưởng; chi phí năng lượng; chi phí điều hành và phục vụ sản xuất. Bốn là, chi phí sản xuất gồm: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp (nếu phân theo quan hệ sản phẩm); chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung (nếu phân theo các khoản mục). 9 Năm là, giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản xuất tạo ra lượng sản phẩm hoàn thành (thành phẩm) trong một khoảng thời gian nhất định.
Hành vi nhà đầu tư cá nhân Adam hayes (2021) “nhà đầu tư cá nhân thường là một nhà đầu tư không chuyên nghiệp”. Họ thực hiện giao dịch đầu tư thông qua các công ty môi giới truyền thống hoặc trực tuyến. Cá nhà đầu tư cá nhân mua chứng khoán cho tài khoản cá nhân của họ và thường giao dịch với số lượng nhỏ hơn đáng kể so với các nhà đầu tư tổ chức. Các nhà đầu tư cá nhân là những người tham gia thị trường đầu tư không chuyên nghiệp và thường đầu tư số tiền nhỏ hơn các nhà đầu tư tổ chức.
Các nhà đầu tư cá nhân thường mua và bán, giao dịch trên thị trường cổ phiếu, trái phiếu và có xu hướng đầu tư số tiền nhỏ hơn nhiều so với các nhà đầu tư tổ chức lớn. Họ thường đầu tư vào cổ phiếu của các công ty nhỏ vì mức giá thấp hơn, cho phép nhà đầu tư cá nhân mua nhiều chứng khoán khác nhau với số lượng cổ phiếu thích hợp để đạt được danh mục đầu tư đa dạng. Do các giao dịch nhỏ nên các nhà đầu tư cá nhân có thể phải trả phí và hoa hồng cao hơn cho bên môi giới. Đồng thời, họ tự đưa ra quyết định đầu tư, bởi vì tự chấp nhận với các quyết định đầu tư của chính mình nên cá nhà đầu tư cá nhân có những hành vi phản ứng nhanh trước những chuyển động của thị trường đầu tư.
LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2. Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) Lý thuyết hành động hợp lý (TRA): Lý thuyết TRA do Fishbein và Ajzen (1975) đã giải thích mối quan hệ giữa thái độ và hành vi trong hành động của con người, được sử dụng để dự đoán cách mà các cá nhân sẽ hành xử dựa trên thái độ và ý định hành vi đã có từ trước của họ. Các cá nhân sẽ hành động dựa vào những kết quả mà họ mong đợi khi thực hiện hành vi đó. TRA cho rằng ý định thực hiện một hành vi nhất định có trước hành vi thực tế.
Ý định này được gọi là ý định hành vi và là kết quả của niềm tin rằng việc thực hiện hành vi đó sẽ dẫn đến một kết quả cụ thể. Thuyết hành động hợp lý cho thấy rằng ý định càng mạnh mẽ càng làm tăng động lực thực hiện hành vi, điều này dẫn đến làm tăng khả năng hành vi được thực hiện. TRA đã chỉ ra được mối quan hệ giữa thái độ và chuẩn chủ quan với ý định hành vi có ảnh hưởng như thế nào đến việc thực hiện hành vi của con người. 1 0 Thái độ đối với khách hàng Ý định hành vi Hành vi Chuẩn chủ quan Hình 2.
Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975) 2. Thuyết hành vi dự tính (TPB) Lý thuyết hành vi dự tính (TPB): Lý thuyết TPB của Ajzen (1991) thể hiện mối quan hệ giữa niềm tin và hành vi của một người nào đó, trong đó niềm tin được chia làm ba loại: niềm tin về hành vi, niềm tin theo chuẩn mực chung và niềm tin về sự tự chủ. Bằng cách bổ sung thêm vào mô hình nhân tố nhận thức về kiểm soát hành vi, TPB đã cải thiện khả năng dự đoán hơn TRA, có nhiều ưu điểm trong việc dự đoán, và giải thích hành vi của một cá nhân trong một hoàn cảnh nhất định. Tương ứng với ba loại niềm tin của con người, niềm tin hành vi tạo ra một thái độ hành vi (có thể tiêu cực hay tích cực), niềm tin theo chuẩn mực chung dẫn đến một chuẩn mực chủ quan, và niềm tin về sự tự chủ làm phát sinh nhận thức kiểm soát hành vi.
TPB giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các ý định để thực hiện hành vi đó. TPB là lý thuyết phù hợp đối với các nghiên cứu thực nghiệm trong việc xác định ra các yếu tố quan trọng để từ đó có thể đề xuất các chính sách, giải pháp - nó là một trong những mô hình tốt nhất để thực hiện các chính sách, giải pháp sau nghiên cứu. Theo nguyên tắc chung, thái độ đối với hành vi và tiêu chuẩn chủ quan càng thuận lợi, và nhận thức kiểm soát hành vi càng dễ dàng thì ý định thực hiện hành vi của người đó càng mạnh mẽ. Và nếu một mức độ kiểm soát thực tế đối với hành vi đủ lớn thì họ có thể thực hiện ý định mỗi khi có cơ hội.
Mô hình thuyết hành vi dự tính (Nguồn: Ajzen, 1991) 2. Lý thuyết triển vọng Theo lý thuyết triển vọng của Kahneman and Tvềrskys (1979), nhà đầu tư có khuynh hướng xem khả năng bù đắp một khoản lỗ quan trọng hơn khả năng kiếm được nhiều lợi nhuận. Khi khoản đầu tư có khuynh hướng mang lại lợi nhuận, nhà đầu tư thường nắm chắc ngay cơ hội có lợi nhuận hiện tại hơn là cố gắng tiếp tục đầu tư để có lợi nhuận nhiều hơn trong tương lai. Nhưng ngược lại, khi khoản đầu tư có nguy cơ bị thua lỗ, nhà đầu tư lại cố gắng duy trì với hy vọng sẽ nhận được khoản lời trong tương lai, mặc dù lúc này rủi ro là rất cao.
Điều này đã giải thích được xu hướng mua bán cổ phiếu của nhà đầu tư: bán quá nhanh khi có lời và nắm giữ cổ phiếu lỗ quá lâu. Lý thuyết tài chính hành vi Fernandes và cộng sự. (2007) đã phân chia các khuynh hướng hành vi ra làm hai nhóm: khuynh hướng nhận thức và khuynh hướng cảm xúc, mặc dù cả hai loại đều mang lại những quyết định bất hợp lý. Bởi vì khuynh hướng nhận thức (sự tự nghiệm) như việc neo quyết định, sự sẵn có, và tình huống điển hình bắt nguồn từ sự suy luận không chính xác, những thông tin và lời khuyên tốt hơn thường có thể hiệu chỉnh chúng.
Trái lại, những khuynh hướng cảm xúc, chẳng hạn như sự tiếc nuối và sợ rủi ro, bắt nguồn từ những cảm giác bốc đồng hoặc trực giác, hơn là từ suy luận có ý thức, và khó có thể hiệu chỉnh. Lý thuyết thông tin bất cân xứng Akerlof (1970) lần đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng. Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có 11 thông tin nhưng thông tin không chính xác. Điều này khiến cho bên có ít thông tin có những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch, đồng thời bên có nhiều thông tin sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện các giao dịch.
Trên thị trường chứng khoán, đối với phần lớn nhà đầu tư, sự quan tâm hàng đầu của họ là lợi nhuận. Nhà đầu tư thường có ít thông tin về doanh nghiệp hơn nhà quản lý nên có thể có những bất lợi hơn so với nhà quản lý.