đặt vấn đề an toàn lên trên tất cả các yếu tố khác liên quan đến công việc và sẽ thể hiện rất ít tham vọng. Theo thuyết Y, các nhà quản lý thường có 4 giả thuyết như sau: - Người lao động có thể nhìn nhận công việc là tự nhiên, như là sự nghỉ ngơi hay là trò chơi; - Một người đã cam kết với các mục tiêu thường sẽ tự định hướng và tự kiểm soát được hành vi của mình; - Một người bình thường có thể học cách chấp nhận trách nhiệm, hay thậm chí tìm kiếm trách nhiệm; - Sáng tạo có nghĩa là khả năng đưa ra những quyết định tốt là phẩm chất của mọi người và phẩm chất này không chỉ có ở những người làm công tác quản lý. Thuyết X cho rằng các nhu cầu có thứ bậc thấp hơn thường chế ngự các cá nhân. Thuyết Y lại cho rằng các nhu cầu có thứ bậc cao hơn chế ngự các cá nhân.
McGregor lại tin rằng các giả thuyết của thuyết Y hợp lý hơn các giả thuyết của thuyết X. Vì vậy, Ông đề ra các ý tưởng như tham gia vào việc ra quyết định, công 11 việc đòi hỏi trách nhiệm và thách thức, quan hệ tốt trong nhóm, coi đây là những phương thức tối đa hóa động lực trong công việc của người lao động (Bùi Anh Tuấn ctg, 2009). Thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg: Thuyết hai nhân tố của Herzberg thì cho rằng đối nghịch với bất mãn không phải thỏa mãn mà là không bất mãn và đối nghịch với thỏa mãn không phải là bất mãn mà là không thỏa mãn. Và các nhân tố liên quan đến sự thỏa mãn đối với công việc được gọi là nhân tố động viên, còn các nhân tố liên quan đến sự bất mãn được gọi là các nhân tố duy trì.
Nhân tố động viên là tác nhân của sự thỏa mãn, sự hài lòng trong công việc như: đạt kết quả mong muốn; sự thừa nhận của tổ chức, lãnh đạo, đồng nghiệp; trách nhiệm; sự tiến bộ, thăng tiến trong nghề nghiệp; sự tăng trưởng như mong muốn. Các nhân tố động viên này nếu được giải quyết tốt sẽ tạo ra sự thỏa mãn từ đó động viên người lao động làm việc tích cực, chăm chỉ hơn. Nhưng nếu giải quyết không tốt thì tạo ra tình trạng không thỏa mãn chứ chưa chắc gây bất mãn. Nhân tố duy trì là tác nhân của sự bất mãn của nhân viên trong công việc tại một tổ chức, có thể là do: chế độ, chính sách của tổ chức; sự giám sát trong công việc không thích hợp; các điều kiện làm việc không đáp ứng mong đợi của nhân viên; lương bổng và các khoản thù lao không phù hợp hoặc chứa đựng nhiều nhân tố không công bằng; quan hệ với đồng nghiệp có vấn đề; quan hệ với cấp trên, cấp dưới không đạt được sự hài lòng.
Các nhân tố duy trì này nếu giải quyết không tốt sẽ tạo ra sự bất mãn, nếu được giải quyết tốt sẽ tạo ra tình trạng không bất mãn chứ chưa chắc có tình trạng thỏa mãn (Nguyễn Hữu Hiểu, 2011). Lý thuyết về sự gắn kết của nhân viên với tổ chức: 2. Khái niệm về sự gắn kết của nhân viên với tổ chức: Đã có rất nhiều học giả đưa ra định nghĩa về sự gắn kết của nhân viên với tổ chức, tuy nhiên vẫn chưa có một nghiên cứu nào thống nhất về định nghĩa về sự gắn kết của nhân viên với tổ chức. Theo lý thuyết được xây dựng bởi Homan (1958) thì sự gắn kết với tổ chức được xem như là kết quả của mối quan hệ trao đổi giữa cá nhân và tổ chức.
12 Đây là khái niệm đầu tiên về sự gắn kết với tổ chức. Tiếp đến là nghiên cứu của Becker (1960) dựa trên nền tảng nghiên cứu trước đó của Homan (1958) đã đưa ra khái niệm của riêng mình. Và sau nay một số học giả đã đưa ra những khái niệm khác như sau. Còn theo Mowday và các cộng sự (1979) giải thích rằng sự gắn kết với tổ chức là một trạng thái mà một cá nhân xác định với một mục tiêu cụ thể của tổ chức và mong muốn duy trì tư cách thành viên của cá nhân đó trong tổ chức ngoài ra thì nó còn là sức mạnh của sự đồng nhất (identification) đến từ mỗi nhân viên, cá nhân với tổ chức và sự tham gia tích cực (involvement) của họ trong tổ chức.
Theo O'Reilly và Chatman (1986) cho rằng sự gắn kết của nhân viên với tổ chức là một dạng tâm lý thể hiện sự gắn bó của cá nhân với lợi ích của tổ chức. Theo Allen và Meyer (1990) thì sự gắn kết của nhân viên với tổ chức được định nghĩa là giống như một trạng thái tâm lý của cá nhân, nhân viên đối với tổ chức, liên quan một cách chặt chẽ đến quyết định của nhân viên về việc có tiếp tục là một thành viên của tổ chức. Còn đối với nhóm tác giả Mueller, Wallace và Price (1992) thì định nghĩa sự gắn kết của nhân viên với tổ chức là mức độ mà một nhân viên cảm thấy trung thành với tổ chức của mình. Cũng trong khoảng thời gian đầu những năm của thập niên 20, nhóm nhà nghiên cứu Becker, Randal và Riegel (1995) đã định nghĩa sự gắn kết với tổ chức là giữa cá nhân và tổ chức có sự đồng nhất, cá nhân có sự tham gia tích cực trong tổ chức, sự đồng nhất và sự tham gia tích cực đó tạo nên sức mạnh phát triển của tổ chức.
Quan điểm này của ông khá giống với Mowday và cộng sự (1979). Theo Northcraft và Neale (1996) sự gắn kết là biểu hiện của nhân viên đối với tổ chức được thể hiện qua sự trung thành và niềm tin vào các giá trị của tổ chức. Chính xác thì sự gắn kết của nhân viên với tổ chức được thể hiện bằng 13 việc nỗ lực làm việc để đạt các mục tiêu mà tổ chức đã đặt ra cũng chính là giá trị của một tổ chức. Theo nghiên cứu của Ilies, R.
(2003) thì sự gắn kết được định nghĩa là sự sẵn sàng nỗ lực công hiến hết mình vì mục tiêu và sự phát triển của tổ chức. Trong các bài nghiên cứu thì lý thuyết về sự gắn kết của nhân viên với tổ chức được chấp nhận nhiều nhất là định nghĩa của Mowday và công sự (1979). Thành phần trong sự gắn kết của nhân viên với tổ chức: Giống như với khái niệm thì thành phần trong sự gắn kết của nhân viên với tổ chức cũng có rất nhiều luận điểm khác nhau của tác giả, bài nghiên cứu. Nhóm tác giả O'Reilly và Chatman (1986) đã công bố kết quả tiến hành đo lường sự gắn kết của nhân viên với tổ chức thông qua ba thành phần và 21 biến quan sát: Sự tuân thủ: việc tham gia tổ chức là để đạt được những phần thưởng cụ thể chứ không phải vì niềm tin vào giá trị của tổ chức; Sự đồng nhất: thể hiện qua việc một cá nhân cảm thấy tự hào khi là một thành phần của tổ chức, tôn trọng giá trị và mục tiêu của tổ chức, là mong muốn là một phần không thể thiếu của tổ chức; Sự nội bộ hóa: vì có sự tương đồng về giá trị nào đó giữa cá nhân và tổ chức dẫn tới sự chấp nhận niềm tin, mục tiêu của tổ chức thành niềm tin và mục tiêu của cá nhân.
Mô hình của Mowday và cộng sự (1979) về sự gắn kết với tổ chức gồm ba thành phần: Sự đồng nhất (indentification): mục tiêu của cá nhân trùng với mục tiêu của tổ chức; Sự tham gia (involvement): nhân viên trở thành một phần của tổ chức, cùng tham gia vào hoạt động và mục tiêu của tổ chức; Sự trung thành (loyalty): là mối quan hệ giữa nhân viên và tổ chức, nhân viên sẵn sàng bỏ ra một điều gì đó của bản thân họ để đóng góp cho sự phát triển của tổ chức. Mô hình ba thành phần trong sự gắn kết của nhân viên với tổ chức của nhóm tác giả Meyer, Ellen và Smith (1993) bao gồm: Gắn kết vì tình cảm (Affective Commitment) tình cảm của nhân viên với tổ chức. Người nhân viên giàu tình cảm với tổ chức sẽ tự nguyện ở lại với tổ chức vì đơn giản họ muốn 14 điều này; Gắn kết để duy trì (Continuance Commitment): là những ràng buộc bởi chi phí liên quan mà người nhân viên phải hoàn trả khi rời khỏi tổ chức, nhân viên duy trì việc gắn kết với tổ chức vì điều này là bắt buộc nếu họ không muốn đánh đổi các giá trị khác; Gắn kết vì đạo đức (Normative Commitment): là đạo đức của người nhân viên với tổ chức, xuất phát từ tính cách của người nhân viên, thể hiện qua sự trung thành với tổ chức, có trách nhiệm với tổ chức và các cá nhân khác trong tổ chức, nhân viên cảm thấy họ nên ở lại với tổ chức vì đạo đức của họ không cho phép. Lợi ích của sự gắn kết giữa nhân viên và tổ chức: Theo nghiên cứu của Allen & Meyer (1990) thì những nhân viên có sự gắn kết chặt chẽ với tổ chức sẽ có tỷ lệ nghỉ việc thấp hơn, nhờ đó giảm thiểu được những chi phí đi kèm hoặc việc bị giảm doanh thu do thiếu hụt nhân viên và tạm thời chưa thể tuyển thêm để bù đắp vào.
Việc có chênh lệch trong cơ cấu tổ chức sẽ rất nghiêm trọng nếu đó là nhân viên có năng suất cao, chính vì vậy việc không để mất đi nhân viên cũng đã đem lại lợi ích cho doanh nghiệp khi đảm bảo được mục tiêu hoạt động đặt ra ban đầu. Theo Becker, Randal và Riegel (1995) thì sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức có vai trò quan trong với sự thành công của tổ chức. Theo nghiên cứu của Madigan, Norton, & Testa (1999) những nhân có sự gắn kết với tổ chức có xu hướng làm việc siêng năng, tận tâm, cung cấp giá trị, quảng bá dịch vụ hoặc sản phẩm của tổ chức và tìm kiếm sự cải tiến liên tục cho tổ chức. Tổng quan tài liệu nghiên cứu: 2.
Các tài liệu nghiên cứu nước ngoài: Theo nền tảng lý thuyết của tác giả Homan (1958) nhà nghiên cứu Becker (1960) đã kế thừa và đưa ra một trong những lý thuyết đầu tiên về sự gắn kết của nhân viên với tổ chức. Tác giả Becker (1960) cho rằng giá trị thuộc về nhân viên, vị trí của nghề nghiệp hoặc những yếu tố bối cảnh khác mà người lao động quan tâm bên ngoài những thứ mà không liên quan đến tổ chức chính là những 15 lý do mà người nhân viên muốn gắn kết với tổ chức.