Chương 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỬ DỤNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan lý thuyết về dịch vụ ngân hàng điện tử 1.1 Khái quát ngân hàng điện tử 1.1 Các thời kỳ phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử đã phát triển khá phổ biến từ lâu. Một số cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển của ngân hàng điện tử: - Sự xuất hiện của hệ thống máy rút tiền tự động ATM ở thập niên 70. - Sự ra đời của dịch vụ ngân hàng qua mạng điện thoại Phone Banking ở những năm 80. - Sự ra đời của Internet banking vào những năm 90 với sự kiện nổi bật của Ngân hàng WellFargo - ngân hàng đầu tiên tại Mỹ cung cấp dịch vụ ngân hàng qua mạng vào năm 1989.
Nhìn chung, thông qua những cột mốc quan trọng trên, ngân hàng điện tử ghi nhận những giai đoạn phát triển sau: - Website quảng cáo: đây là hình thức cơ bản nhất của ngân hàng điện tử. Hầu hết các ngân hàng thương mại đều xây dựng một trang thông tin chứa những thông tin về ngân hàng, các dịch vụ cũng như sản phẩm nhằm quảng bá hình ảnh và thông tin đến khách hàng. Thực chất website quảng cáo chỉ là kênh truyền tải thông tin, hầu hết các giao dịch đều được thực hiện tại quầy giao dịch của ngân hàng. - Thương mại điện tử: Các ngân hàng sử dụng Internet như là một kênh phân phối mới cho những dịch vụ truyền thống tạo thuận lợi cho khách hàng xem thông tin tài khoản, nhận thông tin giao dịch chứng khoán, chuyển khoản… Mạng Internet được xem là công cụ hỗ trợ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng một cách chủ động và nhanh chóng.
- Quản lý điện tử: Ngân hàng là sự kết nối dịch vụ nhiều bên, vừa là người 7 thực hiện giao dịch, vừa là trung gian xử lý các yêu cầu từ nhiều phía thông qua mạng Internet. Sự liên kết được đặt ra giữa ngân hàng, cơ quan nhà nước, các bên tham gia giao dịch… được xây dựng và quản lý một cách chính xác, nhanh chóng và thuận tiện với chi phí thấp so với mô hình cũ. - Ngân hàng điện tử: Mô hình ngân hàng tiên tiến nhất với sự thay đổi hoàn toàn mô hình kinh doanh và phương thức quản lý. Ngân hàng thương mại sẽ áp dụng công nghệ công tin hiện đại để cung cấp các giải pháp về tài chính một cách toàn diện, chính xác và mang tính toàn cầu.
Nhiều sản phẩm chuyên biệt sẽ được ra đời, cung cấp nhiều giải pháp cho những khách hàng chuyên biệt. Đây là xu hướng mới trong thời gian tới.2 Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay, đặc biệt là ngành tài chính ngân hàng thì dịch vụ ngân hàng điện tử đang trên đà tăng trưởng vượt bậc. Theo Quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN quy định về các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động NHĐT, NHNN đã đưa ra khái niệm về DVNHĐT như sau: “Hoạt động ngân hàng điện tử là hoạt động của ngân hàng được thực hiện thông qua các kênh phân phối điện tử”. Trong đó, kênh phân phối điện tử được hiểu là “Hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được Tổ chức tín dụng sử dụng để giao dịch với khách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng”.
Các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động… được gọi là DVNHĐT. Luật thương mại điện tử Việt Nam 2005, theo Điều 4, phương tiện điện tử là các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học điện tử hoặc công nghệ tương ứng. Mạng viễn 8 thông bao gồm mạng internet, mạng điện thoại, mạng vô tuyến, mạng intranet, mạng extrane. Như vậy, dịch vụ NHĐT là dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua phương thức điện tử.
Trong đó, phương thức điện tử dùng để chỉ toàn bộ quy trình và hệ thống phương tiện giao dịch điện tử như máy tính cá nhân, ATM, điện thoại…; hệ thống quản lý và xử lý dữ liệu giao dịch tại các ngân hàng; hệ thống giao tiếp và xử lý giao dịch liên ngân hàng. Trên thế giới, DVNHĐT đã trải qua cả một quá trình dài phát triển trên tất cả các mặt để đạt đến mức độ phổ biến như hiện nay. Phát triển trong DVNHĐT được hiểu là sự phát triển cả về chất và lượng của dịch vụ từ sự gia tăng số lượng dịch vụ, gia tăng các tiện ích đến sự gia tăng về chất lượng dịch vụ như tốc độ xử lí, tính ổn định, độ an toàn tin cậy… để đạt được mục tiêu cuối cùng mà ngân hàng đề ra đó là mục tiêu lợi nhuận. Hiện nay do sự cạnh tranh quyết liệt, các ngân hàng đều chú trọng đi đôi giữa sự tăng cường chất lượng dịch vụ như tăng cường tính năng bảo mật, tăng cường tốc độ xử lí, độ ổn định nhưng vẫn đảm bảo an toàn, giảm thiểu những rủi ro.
Thực tế chứng minh hầu hết các ngân hàng đều phát triển các dịch vụ NHĐT từ mức đơn giản (truy vấn, kiểm tra thông tin, số dư,…) cho đến mức phức tạp (chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, thanh toán dịch vụ,.) Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm DVNHĐT. Có quan niệm cho rằng DVNHĐT là dịch vụ của ngân hàng cho phép khách hàng có khả năng truy cập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới [Trương Đức Bảo,2003]. Dịch vụ ngân hàng điện tử là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng (How the Internet redefines banking, Tạp chí the Australian 2 Banker, tuyển tập 133, số 3, 6/1999). Các khái niệm trên đều định nghĩa ngân hàng điện tử thông qua các dịch vụ cung cấp hoặc qua kênh phân phối điện tử.
Định nghĩa này có thể đúng ở từng thời 9 điểm nhưng không thể khái quát hết được cả quá trình lịch sử phát triển cũng như tương lai phát triển của ngân hàng điện tử, một định nghĩa tổng quát nhất về ngân hàng điện tử có thể được diễn đạt như sau: NHĐT bao gồm tất cả các dạng của giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hoá nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng. DVNHĐT là một dịch vụ mà các ngân hàng cung cấp cho khách hàng thông qua Internet để thực hiện việc truy vấn thông tin về tài khoản, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, mở tài khoản trực tuyến, đăng ký mở thẻ, đăng ký vay trực tuyến,. trên website của Ngân hàng tại bất cứ điểm truy cập Internet nào và vào bất cứ thời điểm nào mà không cần phải đến các quầy giao dịch của ngân hàng (GAO, 1999). Nhìn chung, DVNHĐT là một loại hình dịch vụ ngân hàng ứng dụng công nghệ kết hợp cùng mạng viễn thông từ đó cho phép người dùng kiểm tra thông tin hoặc thực hiện các giao dịch với tài khoản ngân hàng mà không cần tới quầy giao dịch cũng như ATM thông qua các phương tiện điện tử có kết nối mạng với ngân hàng.
Khách hàng của ngân hàng điện tử có thể là một cá nhân hoặc doanh nghiệp, trong bài nghiên cứu tác giả sẽ tập trung tìm hiểu về DVNHĐT dành cho khách hàng tại địa bàn quận Thủ Đức.2 Các dịch vụ ngân hàng điện tử Về nguyên tắc, thực chất DVNHĐT là việc thiết lập một kênh trao đổi thông tin tài chính giữa khách hàng và Ngân hàng nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng dịch vụ Ngân hàng của khách hàng một cách thực sự nhanh chóng, an toàn và thuận tiện. Sau rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm và ứng dụng, hiện nay dịch vụ ngân hàng được các ngân hàng thương mại Việt Nam cung cấp các sản phẩm dịch vụ qua các kênh chính sau đây: Ngân hàng trên mạng Internet (Internet banking), Ngân hàng tại nhà (Home-banking); Ngân hàng qua mạng thông tin di động (Mobile-banking); Call Center. - Call centre Do quản lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại bất kỳ chi nhánh nào vẫn gọi về một số điện thoại cố định của trung tâm này để được cung cấp mọi thông tin chung và cá nhân. Khác với phone banking chỉ cung cấp các loại 10 thông tin lập trình sẵn, Call centre có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng.
Nhược điểm của Call centre là phải có người trực 24/24 giờ. - Phone banking Đây là loại sản phẩm cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động. Do tự động nên các loại thông tin được ấn định trước, bao gồm thông tin về tỷ giá hối đoái, lãi suất, giá chứng khoán, thông tin cá nhân cho khách hàng như số dư tài khoản, liệt kê năm giao dịch cuối cùng trên tài khoản, các thông báo mới nhất… Hệ thống cũng tự động gửi fax khi khách hàng yêu cầu cho các loại thông tin nói trên. Hiện nay, qua Phone banking, thông tin được cập nhật, khác với trước đây, khách hàng chỉ có thông tin của cuối ngày hôm trước.
- Mobile banking Là hình thức thanh toán trực tuyến qua mạng điện thoại di động, song hành với phương thức thanh toán qua mạng Internet ra đời khi mạng lưới Internet phát triển đủ mạnh vào khoảng thập niên 90. Phương thức này được ra đời nhằm giải quyết nhu cầu thanh toán các giao dịch có giá trị nhỏ (Micro payment) hoặc những dịch vụ tự động không có người phục vụ. Muốn tham gia dịch vụ, khách hàng đăng ký để trở thành thành viên chính thức trong đó quan trọng là cung cấp những thông tin cơ bản như: số điện thoại di động, tài khoản cá nhân dùng trong thanh toán. Sau đó, khách hàng được nhà cung ứng dịch vụ thanh toán qua mạng này cung cấp một mã số định danh (ID).