Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương này trình bày tổng quan về dịch vụ rút tiền mặt tại ATM không dùng thẻ (Cardless); lý do nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu Chương này là một chương rất quan trọng và có thể nói nội dung trong chương này là cơ sở nền tảng trong đề tài. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ Vietbank Cardless của khách hàng cá nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí 8 Minh; phân tích và đánh giá các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Từ đó các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu sẽ được xây dựng và phát triển.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày thiết kế nghiên cứu; phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu; xây dựng và hiệu chỉnh thang đo của nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày thông tin thống kê mô tả về mẫu nghiên cứu; các kết quả kiểm định thang đo; phân tích nhân tố; phân tích tương quan và hồi qui; kiểm định các giả thuyết nghiên cứu; thảo luận kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trong chương này, các kết quả nghiên cứu chính trong đề tài sẽ được tóm tắt lại và những kiến nghị khả thi sẽ được trình bày. Chương này cũng chỉ ra những giới hạn trong nghiên cứu và khuyến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo.
9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU Chương này trình bày các khái niệm và lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm: Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ, các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ. Sau khi tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trước có liên quan, các giả thuyết và mô hình nghiên cứu sẽ được xây dựng và phát triển. Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ Theo Ajzen (1991), ý định hành vi bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi. Tán đồng với quan điểm trên, với bối cảnh nghiên cứu là sự chấp nhận sử dụng công nghệ, khái niệm ý định hành vi (cụ thể là ý định tiếp tục sử dụng) được định nghĩa là sự sẵn sàng sử dụng công nghệ của mỗi cá nhân (Davis và ctg, 1989; Venkatesh và ctg, 2012).
Ngoài ra, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng ý định tiếp tục sử dụng một hệ thống công nghệ đặc thù là tác nhân chính dẫn đến hành vi sử dụng thực sự. Do đó, ý định tiếp tục sử dụng công nghệ là khái niệm chính trong mô hình Chấp nhận công nghệ (Ajzen, 1991; Taylor và Todd, 1995; Venkatesh và ctg, 2003). Kết hợp quan điểm của Ajzen (1991) và một số tác giả khác, định nghĩa về ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ được dùng trong đề tài này như sau: “Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi”. Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu là ý định tiếp tục sử dụng và dịch vụ Vietbank Cardless là một ứng dụng công nghệ trên thiết bị điện thoại thông minh, nên đề tài trình bày 4 học thuyết về ý định sử dụng của mỗi cá nhân và đã được kiểm chứng thực nghiệm trong nhiều nghiên cứu.
Đó là thuyết Hành động hợp lý (TRA), mô hình Chấp nhận công nghệ (TAM), thuyết Hành vi dự định (TPB), thuyết Sự chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT). Thuyết hành động hợp lý (TRA) Thuyết hành động hợp lý (TRA) được Fishbein và Ajzen xây dựng từ năm 1975 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội (Eagly và Chaiken, 1993; Olson và Zanna, 1993; Sheppard, Hartwick và Warshaw, 1988, trích bởi Mark và Christopher, 1998). Mô hình TRA (Hình 2.1) cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó và mối quan hệ này đã được kiểm chứng thực nghiệm trong nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau (Ajzen, 1988; Canary và Seibold, 1984; Fishbein và Ajzen, 1975; Sheppard, Hartwick và Warshaw, 1988, trích trong Ajzen, 1991). Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định hành vi là Thái độ cá nhân và Chuẩn chủ quan.
Trong đó, Thái độ cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi; Chuẩn chủ quan là nhận thức của những người có ảnh hưởng đến một cá nhân trong việc có nên hay không nên thực hiện hành vi. Thái độ cá nhân Ý định Hành vi Chuẩn chủ quan Hình 2. Thuyết hành động hợp lý (Fishbein và Ajzen, 1975) 2. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Dịch vụ Vietbank Cardless là một tiện ích trên ứng dụng Mobile Banking của ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín nên có thể xem đây là một dịch vụ mang tính công nghệ.
Do đó, mô hình Chấp nhận công nghệ (TAM) (Hình 2.2) là một trong những công cụ hữu ích để giải thích ý định chấp nhận sử dụng một dịch vụ công nghệ đặc thù. Trên cơ sở kế thừa thuyết Hành động hợp lý (TRA), Davis và ctg (1989) đúc kết được hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định sử dụng công nghệ là Nhận thức sự hữu ích (PU) và Nhận thức tính dễ sử dụng (PEU). Trong đó, 11 Nhận thức sự hữu ích (PU) phản ánh mức độ tin tưởng của một người về việc sử dụng công nghệ đặc thù sẽ nâng cao hiệu quả công việc của họ; Nhận thức tính dễ sử dụng (PEU) phản ánh kỳ vọng của một người về việc không cần nỗ lực nhiều khi sử dụng công nghệ đặc thù (Davis, 1985, trích trong Chuttur, 2009). Bên cạnh đó, một trong những kết luận quan trọng trong nghiên cứu của Davis (1989) là ý định sử dụng công nghệ là tác nhân chính dẫn đến quyết định sử dụng công nghệ của một người.
Nhận thức sự hữu ích Ý định sử dụng Hành vi sử dụng Nhận thức tính dễ sử dụng Hình 2. Mô hình Chấp nhận công nghệ (Davis và ctg, 1989) 2. Thuyết hành vi dự định (TPB) Thuyết hành vi dự định (TPB) được mở rộng từ thuyết Hành động hợp lý (TRA), nhằm giải thích những hành vi không được kiểm soát hoàn toàn của một cá nhân (Ajzen, 1991). So với thuyết Hành động hợp lý (TRA), thuyết Hành vi dự định (Hình 2.3) bổ sung thêm yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi - có ảnh hưởng đến ý định và hành vi của một cá nhân.
Ajzen (1991) cho rằng hành vi của con người bị tác động mạnh mẽ bởi niềm tin về khả năng thực hiện hành vi đó, và nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh mức độ dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi. Do đó, thuyết Hành vi dự định (TPB) cho rằng mức độ nhận thức kiểm soát hành vi càng cao thì ý định thực hiện càng cao, dẫn đến việc bộc lộ hành vi càng cao. Heath và Gifford (2002) đã ứng dụng thuyết Hành vi dự định (TPB) để giải thích hành vi sử dụng phương tiện công cộng của sinh viên trường đại học Victoria tại Vương Quốc Anh. Borith, Kasem và Takashi (2010) đã ứng dụng thuyết Hành vi dự định (TPB) để nghiên cứu các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe 12 điện trên cao ở thủ đô Phnom Penh (Campuchia).
Chen và Chao (2010) sử dụng thuyết Hành vi dự định (TPB) để nghiên cứu ý định sử dụng hệ thống KMRT tại thành phố Cao Hùng (Đài Loan). Ngoài ra, thuyết Hành vi dự định (TPB) còn được áp dụng trong nhiều nghiên cứu về giao thông cũng như quyết định lựa chọn phương tiện di chuyển của mỗi cá nhân (Bamberg và Ajzen, 1995; Forward, 1998; Pilling và ctg, 1999, trích trong Aoife, 2001). Thái độ cá nhân Chuẩn chủ quan Ý định Hành vi Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2. Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) 2.
Thuyết Sự chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT) Trên cơ sở kế thừa từ các học thuyết và mô hình có liên quan, Venkatesh và ctg (2003) đã xây dựng nên học thuyết Sự chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT) nhằm đánh giá việc chấp nhận sử dụng công nghệ trong tổ chức. Đây là mô hình đã được kiểm chứng thực nghiệm rằng có hiệu quả tốt hơn những mô hình trước đó và rất hữu ích trong việc đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định sử dụng công nghệ (Venkatesh và ctg, 2003). Mô hình bao gồm bốn yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng công nghệ: Hiệu quả kỳ vọng, Nỗ lực dự kiến, Tác động xã hội và Điều kiện thuận lợi. Trong đó, Hiệu quả kỳ vọng là mức độ lợi ích người dùng nhận được khi sử dụng công nghệ; Nỗ lực dự kiến được xem là mức độ dễ dàng mà người dùng cảm nhận được khi sử dụng công nghệ; Tác động xã hội là mức độ người dùng bị ảnh hưởng bởi những người khác trong việc chấp nhận sử dụng công nghệ; Điều kiện thuận lợi là nhận 13 thức về những nguồn lực và sự hỗ trợ sẵn có khi sử dụng công nghệ (Venkatesh và ctg, 2003).
Cụ thể hơn, tác giả còn chỉ ra rằng yếu tố Hiệu quả kỳ vọng, Nỗ lực dự kiến, Tác động xã hội có ảnh hưởng đến ý định sử dụng công nghệ, trong khi đó Điều kiện thuận lợi và Ý định hành vi là hai yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng công nghệ. Hiệu quả kỳ vọng Nỗ lực dự kiến Ý định sử dụng Hành vi sử dụng Tác động xã hội Điều kiện thuận lợi Hình 2. Sự chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (Venkatesh và ctg, 2003) 2. Các nghiên cứu có liên quan Tuy trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu về ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ công nghệ (Bidar và ctg, 2014; Davis và ctg, 1989; Gefen, Karahanna và Straub, 2003; Jeong và Yoon, 2013; Karma, Ibrahim và Ali, 2014; Venkatesh và ctg, 2003) nhưng tại Việt Nam và trong lĩnh vực tài chính ngân hàng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ Cardless.