chương 1 cũng trình bày rõ ý nghĩa đề tài nghiên cứu, đóng góp mới của đề tài cũng như cấu tr c của luận văn. 6 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Rủi ro tín dụng Trong các loại rủi ro mà TCTD phải đối mặt trong quá trình hoạt động thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro quan trọng nhất, nó phụ thuộc cả về phía khách hàng và TCTD (Wang, 2013). Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng.
Khái niệm Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng - BCBS (1999): Rủi ro tín dụng là khả năng mà người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng thất bại trong việc thực hiện theo các điều khoản trả nợ đ th a thuận. Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không chắc chắn liên quan đến việc không hoàn trả các khoản nợ từ phía khách hàng cho ngân hàng. Theo Basel II (2006): Rủi ro tín dụng là rủi ro mất vốn do khách hàng không thanh toán khoản vay đ ng hạn hoặc các khoản tín dụng khác. Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Rủi ro tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Từ những quan điểm trên có thể hiểu khái quát rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của TCTD, khách hàng không trả được nợ gốc và/hoặc l i đ ng hạn cho TCTD. Các chỉ tiêu đo lƣờng rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng có thể được đánh giá thông qua tỷ lệ nợ xấu (Fadzlan Sufian và Royfaizal R. Chong, 2008; Somanadevi Thiagarajan và cộng sự, 2011; Trương Đông Lộc và Nguyễn Văn Thép, 2015). Một số nghiên cứu khác đo lường rủi ro tín dụng qua tỷ lệ của dự phòng rủi ro tín dụng (Hess và cộng sự, 2009; Daniel Foos và cộng sự, 2010).
Yingying Zhu và cộng sự (2009) đ sử dụng kết hợp tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng để đại diện cho rủi ro tín dụng. 7 Thứ nhất: Tỷ lệ nợ xấu (NPLR) Theo Văn bản hợp nhất số 22/VBHN-NHNN ngày 04/6/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 như sau: - Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2; (iii) Nợ được miễn hoặc giảm l i do khách hàng không đủ khả năng trả l i đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; (iv) Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Văn bản hợp nhất số 22/VBHN- NHNN. - Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; (iv) Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Văn bản hợp nhất số 22/VBHN-NHNN. - Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn trên 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; (iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; (v) Nợ khoanh, nợ chờ xử lý; (vi) Nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Văn bản hợp nhất số 22/VBHN-NHNN.
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5. Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ tín dụng Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng của khoản tín dụng cấp cho khách hàng. Tỷ lệ này cho ta biết trong một đồng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ xấu không có khả năng thu hồi, tỷ lệ này càng cao chứng t chất lượng tín dụng là rất thấp, khả năng rủi ro tín dụng càng cao. Hiện nay tỷ lệ nợ xấu là một trong những chỉ tiêu luôn được các TCTD ch trọng, duy trì ở mức thấp.
8 Thứ hai: Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của TCTD. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng là tỷ lệ giữa dự phòng rủi ro tín dụng so với tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng = Dự phòng rủi ro tín dụng Tổng dư nợ tín dụng Tỷ lệ này cho biết quỹ dự phòng rủi ro có khả năng bù đắp bao nhiêu cho khoản nợ xấu khi ch ng chuyển thành nợ mất vốn. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng quỹ dự phòng rủi ro đủ bù đắp thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của TCTD càng cao.
Trong luận văn, tác giả sử dụng biến tỷ lệ nợ xấu để đo lường rủi ro tín dụng của QTDND (biến phụ thuộc). Ưu điểm của chỉ tiêu này là phản ánh tổng quan về tình hình hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu chưa thể hiện đ ng mức độ rủi ro trong trường hợp cho khách hàng vay với mục đích trả nợ cũ để che giấu nợ xấu. Đối với các QTDND ở Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu là một trong ba tiêu chí thành phần đánh giá chất lượng tài sản thuộc nhóm các tiêu chí xếp hạng QTDND hàng năm, tỷ lệ nợ xấu càng thấp thì tính điểm tiêu chí càng cao (theo quy định tại Thông tư 42/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).
Ngoài ra, các QTDND chủ yếu cho vay những món nh lẻ ở khu vực nông thôn với thời hạn theo mùa vụ nên việc cho vay mới để trả nợ cũ ít xảy ra so với các ngân hàng thương mại. Vì vậy tỷ lệ nợ xấu phù hợp để đo lường rủi ro tín dụng tại các QTDND ở Bến Tre. Các yếu tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng phát sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, ở phạm vi mô hình nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ đề cập đến một số yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài của QTDND mang tính chất định lượng được. Một số yếu tố khác ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của QTDND trên địa bàn được trình bày ở nghiên 9 cứu định tính.
Là một loại hình TCTD thực hiện một số hoạt động ngân hàng, các biến sau đây liên quan TCTD nói chung cũng được sử dụng để đo lường đối với các QTDND. Các yếu tố bên trong Thứ nhất: Quy mô tổng tài sản (SIZE) Quy mô tổng tài sản của TCTD thể hiện ở tổng tài sản Nợ và tổng tài sản Có. Cụ thể đối với QTDND: Tài sản Nợ (Tổng nợ phải trả và vốn chủ sở hữu): Bao gồm vốn và các quỹ, tiền gửi của khách hàng, tiền gửi và vay của các TCTD khác, vốn tài trợ, các khoản nợ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước và các khoản nợ khác. Tài sản Có: Bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và các TCTD khác, cho vay khách hàng, góp vốn đầu tư dài hạn, tài sản cố định và tài sản có khác.
Các TCTD có quy mô càng lớn sẽ có nguồn lực trong công tác xử lý và phân tích các vấn đề sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Bên cạnh đó tổ chức có quy mô lớn thường có năng lực quản trị rủi ro tín dụng tốt hơn nên có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn như kết quả nghiên cứu của Salas và Saurina (2002), Trương Đông Lộc và Nguyễn Văn Thép (2015). Tuy nhiên, TCTD có quy mô lớn có thể sẵn sàng chấp nhận rủi ro, mạo hiểm hơn để tăng tỷ phần vốn vay, do đó có nợ xấu cao hơn (Dash và Kabra, 2010; Đ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng, 2013). Trong luận văn này, tác giả đặt giả thuyết nghiên cứu: Quy mô tổng tài sản có mối tương quan tỷ lệ thuận với tỷ lệ nợ xấu.
Thứ hai: Tăng trưởng tín dụng (LG) Tăng trưởng tín dụng là tỷ lệ gia tăng dư nợ tín dụng của năm này so với năm trước đó. Chỉ tiêu này dùng để so sánh tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm, đồng thời đánh giá tình hình cho vay của TCTD. Dư nợ tín dụngt – Dư nợ tín dụngt-1 Tăng trưởng tín dụng = Dư nợ tín dụngt-1 Với áp lực cạnh tranh, các TCTD chạy đua tăng trưởng tín dụng cao có nguy cơ gặp phải những khoản vay kém chất lượng dẫn đến gia tăng nợ xấu trong tương 1 lai. Một số nghiên cứu cho thấy rằng, tăng trưởng tín dụng có tác động cùng chiều đến rủi ro tín dụng sau hai, ba năm (Daniel Foos và cộng sự, 2010; Somanadevi Thiagarajan và cộng sự, 2011).
Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng không phải l c nào cũng tác động cùng chiều đến rủi ro tín dụng. Tăng trưởng tín dụng sẽ có thể làm giảm rủi ro tín dụng trong trường hợp các TCTD thường tăng l i suất cho vay hoặc tăng tiêu chuẩn xét duyệt tín dụng khi nhu cầu tín dụng tăng cao. Trong trường hợp này, tăng trưởng tín dụng (năm hiện hành hoặc với độ trễ một năm) có tác động ngược chiều đến rủi ro tín dụng như kết quả nghiên cứu của Robert T. Do đó, tác giả đặt giả thuyết nghiên cứu: Tăng trưởng tín dụng kỳ trước (LGt-1) có mối tương quan tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nợ xấu.
Thứ ba: Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) Là chỉ số lợi nhuận đo lường khả năng sinh lời trên m i đồng tài sản, chỉ số này đo lường hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản tạo ra lợi nhuận của TCTD. Chỉ số này càng cao cho thấy hoạt động kinh doanh càng hiệu quả. Tỷ suất sinh lời thấp (đồng nghĩa với tỷ suất chi phí cao) là kết quả của năng lực quản lý kém.