chương 1, tác giả đã tổng quan được vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và đóng góp thực tiễn của đề tài. Kết cấu của đề tài gồm 5 chương sẽ được chi tiết ở những phần tiếp theo. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này là phần trình bày các khái niệm về cho vay khách hàng cá nhân và mô hình lý thuyết về hành vi của người tiêu dùng. Sau phần tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan là phần đề xuất mô hình và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu.
Khái niệm về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Dương Hữu Hạnh (2012) định nghĩa cho vay là ngân hàng đưa cho khách hàng một số tiền để sử dụng và khách hàng cam kết trả số tiền đó lại cho ngân hàng một hay nhiều lần theo các kỳ hạn đã ấn định trước (giữa ngân hàng và người vay) cùng với số tiền lãi. Như vậy, có thể hiểu, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng cá nhân một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng Trước đây, hầu hết các lý thuyết về hành vi của người tiêu dùng đều xoay quanh mô hình EKB (Engel & ctg, 1978).
Mô hình này chỉ ra rằng hành vi người tiêu dùng là một quá trình liên tục bao gồm việc nhận ra nhu cầu, thu thập thông tin, xem xét các lựa chọn, quyết định mua và đánh giá sau khi mua. Cho đến năm 1967, Fishbein và Ajen (1975) đã xây dựng thành công thuyết hành vi hợp lý TRA. Thuyết cho rằng ý định hành vi là sự sẵn sàng của một chủ thể đối với việc thực hiện một hành vi nhất định. Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định là thái độ và chuẩn chủ quan.
Trong đó, thái độ của một cá nhân được đo lường bằng niềm tin -6- và cảm nhận tích cực hay tiêu cực về việc thực hiện một hành vi và có thể được quyết định bởi sự dự báo về kết quả của hành vi đó. Cụ thể hơn, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau. Ajzen (1991, trang 188) định nghĩa chuẩn chủ quan là nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi đó.
Những người có liên quan đến người tiêu dùng như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp… thích hay không thích họ mua. Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc hai yếu tố: (1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng. Mô hình TRA được trình bày trong Hình 2. Niềm tin đối với thuộc tính của sản phẩm Thái độ Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Xu hướng Hành vi hành vi thật sự Niềm tin về những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng tôi nên thực hiện hay không thực hiện hành vi Chuẩn chủ quan Sự thúc đẩy làm theo ý muốn của những người ảnh hưởng Hình 2.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Schiffman & Kanuk, 1987 -7- Theo Phạm Thị Tâm & Phạm Ngọc Thúy (2010), dịch vụ ngân hàng không giống như các hàng hóa hữu hình khác – không phải chỉ mua một lần rồi kết thúc mà bao gồm hàng loạt sự tương tác trong bối cảnh của một mối quan hệ lâu dài.
Do đó, việc người tiêu dùng có xem xét đến thái độ, mức ủng hộ của những người chung quanh về ý định lựa chọn ngân hàng của họ là cần thiết. Chính vì vậy, nghiên cứu đã xem xét đưa Thái độ và Chuẩn chủ quan (Ảnh hưởng của xã hội) như là một yếu tố có ảnh hưởng đến ý định lựa chọn ngân hàng vay vốn. Thuyết hành vi dự định TPB (Ajzen, 1991) là sự mở rộng từ thuyết hành động hợp lý TRA. Thuyết TPB cho rằng, ý định được dẫn dắt bởi 3 yếu tố, đó là niềm tin về hành vi (behavioral beliefts), niềm tin quy chuẩn (normative beliefts) và niềm tin kiểm soát (control beliefts).
Niềm tin về hành vi tạo ra thái độ thích hay không thích của chủ thể về hành vi; niềm tin quy chuẩn tạo ra áp lực xã hội nhận thức hay còn gọi là chuẩn chủ quan, là cách mà người xung quanh nghĩ rằng chủ thể ấy nên hay không nên thực hiện hành vi; niềm tin kiểm soát làm gia tăng sự kiểm soát hành vi nhận thức, là cách đánh giá nhìn nhận của chính chủ thể đó về mức độ khó hay dễ để thực hiện hành vi đó. Ba yếu tố này hình thành nên ý định hành vi, được trình bày trong Hình 2. Niềm tin về Thái độ dẫn hành vi tới hành vi Niềm tin Chuẩn chủ Ý định Hành vi quy chuẩn quan hành vi Niềm tin Kiểm soát nhận kiểm soát thức hành vi Hình 2.2 Thuyết hành vi dự định (TPB) Nguồn: Ajzen (1991) -8- Lý thuyết TPB cho rằng thái độ ưa thích, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức càng lớn thì dự định hành vi càng mạnh, và khi kiểm soát hành vi đủ lớn, chủ thể được giả định sẽ thực hiện ý định của mình khi gặp cơ hội. Do đó, ý định hành vi được xem là tiền đề để thực hiện hành vi.
Mô hình TPB được xem như là tối ưu hơn so với mô hình TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng với cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu, trong đó có hành vi về việc sử dụng sản phẩm dịch vụ. Các nghiên cứu trước về quyết định lựa chọn ngân hàng Lĩnh vực ngân hàng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến, đặt biệt là nghiên cứu xu hướng chọn lựa ngân hàng. Và cuối cùng, mục tiêu chung của những nghiên cứu này là đó là lý giải vì sao khách hàng lại lựa chọn một ngân hàng cụ thể nào đó để đến giao dịch. Các nghiên cứu này cũng tương tự với vấn đề nghiên cứu của tác giả nhưng có tính bao quát hơn, không chỉ riêng về lĩnh vực vay vốn.
Nghiên cứu của Aregbeyen (2011) tại Nigeria, quốc gia thuộc Châu Phi xác định các yếu tố quan trọng trong việc quyết định lựa chọn ngân hàng của khách hàng, đó là dịch vụ nhanh chóng, thời gian chờ đợi ngắn, xử lý khiếu nại tốt, danh tiếng/ tin cậy của ngân hàng, sự đổi mới trong sản phẩm dịch vụ, chi phí dịch vụ thấp/hợp lý, thái độ thân thiện và cách cư xử của nhân viên. Một nghiên cứu khác của Saleh & ctg (2013) về tiêu chí lựa chọn ngân hàng của những người ở Kelantan, Malaysia cho rằng có 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng đó là: khả năng tiếp cận (bao gồm: có dịch vụ ATM, địa điểm ATM thuận tiện, phục vụ ATM 24h, dịch vụ nhanh chóng, dịch vụ ngân hàng trực tuyến), độ tin cậy (thương hiệu tốt, an ninh tốt, phí thấp), thuận tiện (bãi đỗ xe gần, dịch vụ ngân hàng điện tử, vị trí ngân hàng thuận tiện, có nhiều chi nhánh), bảo đảm (phí dịch vụ thấp, lãi suất tốt, lãi cho vay thấp, dễ mở tài khoản vãng lai, dễ vay vốn), sự đáp ứng (nhân viên ngân hàng thân thiện và lịch sự; kiến thức, kỹ năng và chuyên môn của nhân viên; đồng phục và ngoại -9- hình của nhân viên; bố trí bên trong ngân hàng), dịch vụ gia tăng (có thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, quà tặng cho KH, có chương trình cho vay), Abbam & ctg (2015) cho rằng vị trí của NH, thêm giờ làm việc vào cuối tuần, sự sẵn có của máy ATM, chất lượng dịch vụ, sự giới thiệu của bạn bè và người thân là những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn ngân hàng của khách hàng tại quốc gia Ghana, Châu Phi. Tại Nam Phi, nghiên cứu của Chigamba & Fatoki (2011) chú ý nhiều hơn đến đối tượng khách hàng là sinh viên đại học, kết quả là có sáu nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng đó là: dịch vụ, khoảng cách, tính hấp dẫn, khuyến nghị, tiếp thị và chi phí. Tiêu chí lựa chọn ngân hàng của khách hàng tại Sahiwal, Pakistan của tác giả Zulfiqar & ctg (2014) cũng tương tự các nghiên cứu trên với các yếu tố thuận tiện, chất lượng dịch vụ và giá cả/ chi phí được xem là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của khách hàng.
Ở trong nước hiện nay đã có nhiều tác giả thực hiện các công trình nghiên cứu về xu hướng lựa chọn và quyết định sử dụng sản phẩm dịch vụ tại các ngân hàng của KHCN với nhiều góc độ khác nhau như về sản phẩm huy động vốn, sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử. Những công trình nghiên cứu này đã góp phần tích cực trong việc xây dựng nền tảng lý luận và đưa ra các giải pháp thiết thực trong thực tiễn. Điển hình như nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Tâm & Phạm Ngọc Thúy (2010) về xu hướng chọn lựa ngân hàng của KHCN. Đề tài đã đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng chọn lựa ngân hàng là nhận biết thương hiệu, sự thuận tiện về vị trí các điểm giao dịch, xử lý sự cố, ảnh hưởng của người thân, vẻ bên ngoài, và cuối cùng là thái độ đối với chiêu thị.
Qua kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám phá để loại biến của những giả thiết không phù hợp, phân tích hồi quy tuyến tính để kiểm định mức độ phù hợp của mô hình, tác giả phần nào giúp cho - 10 - các ngân hàng hiểu được thái độ, mong muốn của khách hàng khi lựa chọn ngân hàng để giao dịch. Kế thừa nghiên cứu trên, tác giả Nguyễn Kim Nam & Trần Thị Tuyết Vân (2015) cũng đưa ra mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn ngân hàng của KHCN tại TP.