Chương 1 TONG QUAN 1. Téng quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Nathan Okurut (2006) nhằm xác định các nhân tô ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tin dụng của người nghèo và người da màu đối với thị trường tín dụng chính thức và phi chính thức. Bằng việc sử dụng mô hình probit và Binary logistic, tác giả chỉ ra rằng người nghèo và người da màu bị hạn chế về khả năng tiếp cận nguồn tín dụng này.
Trong phạm vi quốc gia, khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi giới tính, độ tuổi, số thành viên trong gia đình, trình độ học vấn, chỉ tiêu và chủng tộc của hộ. Việc nghèo khó có tác động xấu đến việc tiếp cận nguồn tín dụng chính thức. Ở thị trường tín dụng phi chính thức, việc tiếp cận các khoản tín dụng này chịu sự tác động tích cực bởi số thành viên trong hộ, chỉ tiêu của hộ và vị trí khu vực nông thôn. Trong khi đó, các nhân tố có tác động xâu đến việc tiếp cận tín dụng phi chính thức đó là nam giới, vị trí nông thôn, việc nghèo khó và ban cùng.
Khalid Mohamed (2008) với 300 hộ được khảo sát về tiếp cận tín dụng chính thức va bán chính thức của nông hộ quy mô nhỏ và ngư dân thủ công ở Zanzibar, sử dung phan mềm STATA 7 dé phân tích mô hình hồi quy logistic, cho thay: Tuôi của người chủ hộ có quan hệ nghịch chiều với tiếp cận tín dụng chính thức và bán chính thức. Giới tính chủ hộ cũng có ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng, phụ nữ có khả năng tiếp cận thấp hơn nam giới. Tình trạng hôn nhân của chủ hộ không có ý nghĩa trong mô hình này. Trình độ học vấn hay số năm được giáo dục chính thống của chủ hộ có quan hệ thuận với khả năng tiếp cận tín dụng.
Có mối quan hệ giữa mức thu nhập với tiếp cận tín dụng chính thức và bán chính thức, những người có thu nhập thấp có nhiều cơ hội hơn để có được khoản vay. Am hiểu về các dịch vụ tín dụng cũng làm tăng khả năng tiếp cận nó. Quy mô đất đai có ảnh hưởng tích cực đến tiếp cận tín dụng. Sisay Yehuala (2008), nghiên cứu các nhân tố anh hưởng đến tiếp cận tin dụng chính thức của người nông dân sản xuất quy mô nhỏ ở Ethiopia, sử dụng phương pháp thống kê mô tả và mô hình Binary logistic dé phân tích dir liệu định lượng, phát hiện ra rằng việc tiếp cận tín dụng đối với nữ chủ hộ vẫn còn hạn chế và sự khác biệt giữa giàu, nghèo trong việc tiếp cận tín dụng từ nguồn chính thức cũng có ý nghĩa thống kê.
Nông dân thừa nhận cho vay theo nhóm giải quyết các vấn đề yêu cầu về tài sản thế chấp, kiểm soát lạm dụng vốn vay và giảm thiểu rủi ro vỡ nợ. Tham gia chương trình khuyến nông mở rộng, kinh nghiệm trong sử dụng tín dụng từ các nguồn chính thức, tổng diện tích đất canh tác, tài sản thế chấp và hình thành nhóm vay đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến tiếp cận tín dụng chính thức. Một nghiên cứu khác cũng ở thị trường tín dụng nông thôn Ghana do George Owusu và James Antwi (2010) thực hiện đã xác định chi phí cao, tỷ lệ lãi suất, thiếu tài sản thế chấp, đối mới không đầy đủ, và tỷ lệ nợ quá hạn cao là những nhân tố chính làm cản trở hiệu quả của thị trường tín dụng nông thôn ở Ghana. Một phát hiện quan trọng là thiếu tài sản thế chấp đã làm giảm đáng kế khả năng vay vốn từ thị trường chính thức.
Dzadze và các cộng sự (2012), nghiên cứu xác định các nhân tố làm giới hạn tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân sản xuất nhỏ ở huyện Abura Asebu Kwamankese khu vực trung tâm của Ghana; sử dụng phương pháp thống kê mô tả và mô hình hồi quy nhị phân (binary logistic) dé phân tích dữ liệu định lượng được thu thập. Kết quả cho thấy răng tham gia chương trình khuyến nông, trình độ học vấn và thói quen tiết kiệm đã có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến việc tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân. Nghiên cứu trong nước Có rất nhiều đề tài nghiên cứu về tiếp cận tín dụng chính thức, vấn đề tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ ở các nước đang phát triển là vấn đề trung tâm của các nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn. Qua tìm hiểu một số bài nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu của các tác giả nước ngoài thực hiện tại Việt Nam và tác giả trong nước như: Mikkel Barslund & Finn Tarp (2007) với nghiên cứu về tín dụng chính thức và phi chính thức của nông thôn bốn tỉnh Long An, Quảng Nam, Hà Tây và Phú Thọ của Việt Nam với 932 hộ nông dân được khảo sát trong quý 1/2003 cho thấy các nhân tố quyết định tiếp cận tín dụng chính thức của hộ gia đình ở nông thôn là tuổi của chủ hộ, số đất sở hữu, giới tính, trình độ học van của chủ hộ, số người trưởng thành (từ 15 đến 65 tuổi), số người phụ thuộc (đưới 15 và trên 65), chỉ phí cho thức ăn chăn nuôi, tong tai san, khoang cach dén trung tam tinh, s6 do, thông tin, đã có vay hỗ trợ, lịch sử tín dụng.
Ở Việt Nam theo Barslund và Tarp (2008) xác định rằng các thuộc tính của hộ va chủ hộ, giá tri các nguồn lực của hộ tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ tại thị trường tín dụng. Trong đó, khi chủ hộ là nam giới và tuổi của chủ hộ tăng thì có tác động làm giảm khả năng vay của hộ, số lao động có quan hệ cùng chiều với khả năng tiếp cận tín dụng của hộ. Những nguồn lực quan trọng khác của hộ là diện tích đất và giá trị tài sản có làm tăng khả năng tiếp cận tín dụng của hộ. Có đến 36% sỐ giao dịch tín dụng ở nông thôn là phi chính thức, đặc biệt ở Phú Thọ tín dụng phi chính thức chiếm đến 50% tổng số giao dịch và ở Hà Tây (cũ) con số này là 49%.
Trong nghiên cứu “Khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân: Trường hợp nghiên cứu ở vùng cận ngoại thành Hà Nội” của Nguyễn Quốc Oánh và Phạm Thị Mỹ Dung (2010), cho thấy hai tiêu chí để đánh giá khả năng tiếp cận nguồn vốn tin dụng chính thức của hộ nông dân là (1) khả năng nhận được các khoản vay, bao gồm các nhân tổ như độ tuôi, địa vị xã hội của chủ hộ, hộ đã vay tín dụng không chính thức và thủ tục vay vốn tín dụng chính thức; và (2) hạn mức tín dụng mà hộ nông dân nhận được từ các TCTD, gồm có trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất sử dụng, thu nhập bình quân hàng năm của hộ, tài sản thế chấp và mục đích vay vốn. Nguyễn Quốc Nghi (2011) nghiên cứu “Khả năng tiếp cận nguồn tín dung chính thức của hộ nghèo” ở tỉnh Đồng Tháp cho thấy tudi của chủ hộ, số lao động trong hộ, trình độ học vấn (trình độ học vấn của chủ hộ và trình độ học vấn cao nhất của lao động trong hộ), tham gia hội đoàn thé, giấy chứng nhận quyền sử dung đất và tổng tài sản của hộ tương quan thuận với khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức của hộ nghèo; riêng nhân tổ tổng thu nhập của hộ tác động nghịch chiều với kha năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức của hộ nghèo. Huỳnh Trung Thời (2011) với đề tài nghiên cứu “Các nhân tô ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ trên địa bàn tỉnh An Giang”, đã khảo sát 150 mẫu nông hộ trên 6 xã thuộc 03 huyện Châu Phú, Phú Tân, Chợ Mới, tỉnh An Giang; dùng mô hình Binary logistic nhị phân để ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng bị giới hạn tín dụng chính thức của nông hộ và mô hình hồi quy tuyến tính đa biến dé ước lượng các nhân tổ ảnh hưởng đến lượng vốn vay của nông hộ trên địa bàn tỉnh An Giang. Kết quả phân tích hồi quy bằng mô hình Binary logistic nhị phân cho thấy các biến có tác động thuận đến khả năng bị giới hạn tín dụng chính thức chủ hộ là: nghề nghiệp của chủ hộ; sử dụng tín dụng thương mại; các biến có tác động nghịch đến khả năng bị giới hạn tín dụng là trình độ học vấn; giá tri tai sản; diện tích đất thé cư có số đỏ của hộ.
Nguyễn Văn Hoàng (2013) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hạn mức tín dụng từng phần của hộ gia đình ở khu vực nông thôn trên địa bàn 12 tỉnh của Việt Nam, gồm: Hà Tây, Nghệ An, Khánh Hòa, An Giang, Phú Thọ, Quảng Nam, Long An, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lào Cai, Điện Biên và Lai Châu. Bằng cách sử dụng mô hình hai bước của Heckman và bộ số liệu Điều tra Khả năng Tiếp cận Nguồn lực ở Nông thôn Việt Nam (VARHS 2008). Kết quả chỉ ra rằng những hộ gia đình có những đặc điểm như: dân tộc Kinh, quy mô hộ gia đình lớn, có giá tri dat cao, nam giữ vị trí xã hội sẽ có cơ hội tiếp cận tín dung dé dang hơn, trong khi đó, những hộ gia đình có tỷ lệ người phụ thuộc cao và người lớn tuổi có ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng tiếp cận tín dụng. Danh Chi Tâm (2015) sử dụng phương pháp hồi quy Probit dé phân tích tác động đến tiếp cận tín dụng chính thức tại huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, đã kết luận rằng những đặc điểm về tỷ lệ người phụ thuộc, khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm huyện có ảnh huởng nghịch đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức, còn những đặc điểm về vốn của hộ gia đình như: trình độ học vấn, giá tri tài sản thế chấp có ảnh hưởng thuận đến khả năng tiếp cận tin dụng chính thức của các hộ nông dân sinh sống tại huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Nguyễn Quốc Vinh (2015) sử dụng phương pháp hồi quy Binary logistic dé phân tích khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của nông hộ trên địa bàn tỉnh Trà Vĩnh, đã xác định có 5 nhân tô ảnh hưởng đến kha năng tiếp cận vốn tin dụng chính thức của nông hộ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh thứ tự theo mức độ ảnh hưởng là: Thủ tục cho vay; Lãi suất cho vay; Quan hệ xã hội của chủ hộ; Số lần vay và số tô chức tín dụng trên địa bàn.