Chương 1: Giới thiệu đề tài Trong chương này sẽ trình bày như: Lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu Trong chương này sẽ trình bày các lý thuyết về thị trường chứng khoán, mối quan hệ giữa các yếu tố nội tại ngân hàng và vĩ mô đến giá trị cổ phiếu. Đồng thời khảo lược các nghiên cứu liên quan, từ đó, đưa ra các giả thuyết về mối tương quan giữa các yếu tố đến giá trị cổ phiếu của các NHTMCP trên TTCK Việt Nam. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trong chương này sẽ trình bày về mô hình và giả thuyết nghiên cứu.
Mô tả các biến trong mô hình và kì vọng về tương quan giữa các biến. Ngoài ra, trình bày về cách lựa chọn và xử lý dữ liệu cũng sẽ được trình bày trong phần này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương này sẽ trình bày về thống kê mô tả đối với các biến đã cho trong mô hình, phân tích tương quan. Đồng thời, kết quả hồi quy và các thảo luận về kết quả cũng được đề cập đến trong chương này.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Trong chương này sẽ tóm tắt về kết quả nghiên cứu, những hạn chế và các hàm ý chính sách sẽ được đề xuất cho các NHTMCP trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan lý thuyết về giá trị của cổ phiếu 2. Khái niệm về giá trị thị trường của cổ phiếu Theo Angkouw và cộng sự (2018) giá trị thị trường cổ phiếu là giá của một cổ phần có thể bán được của một công ty, công cụ phái sinh hay tài sản tài chính.
Giá cổ phiếu có thể bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố bao gồm sự biến động trên thị trường, điều kiện kinh tế và chính trị hiện tại. Theo Nguyễn Khắc Hùng và cộng sự (2019) thì giá trị thị trường cổ phiếu được hiểu giá mà nhà đầu tư phải trả nếu muốn mua hoặc nhà đầu tư được quyền bán. Giá cả thị trường luôn biến động và phản ánh sự cân bằng cung cầu trên thị trường. Dựa vào các nghiên cứu trên, trong nghiên cứu này giá trị thị thường của cổ phiếu được hiểu là giá giao dịch mua bán của cổ phiếu trên thị trường tại một thời điểm xác định, dữ liệu được lấy căn cứ vào giá đóng cửa của cổ phiếu tại ngày giao dịch cuối cùng của năm.
Bên cạnh đó, Mankiw (2010) đã đề cập rằng thị trường chứng khoán đang phản ánh kỳ vọng về điều kiện kinh tế trong tương lai vì thị trường chứng khoán đang cho thấy sự sẵn sàng mua của các nhà đầu tư ở mức giá cao khi họ mong đợi các công ty có lãi. Giá cổ phiếu tăng cho thấy các nhà đầu tư kỳ vọng nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh chóng, giá cổ phiếu giảm cho thấy các nhà đầu tư kỳ vọng vào sự suy thoái kinh tế. Bất cứ khi nào thị trường chứng khoán trải qua một sự sụt giảm đáng kể, có lý do để lo sợ rằng một cuộc suy thoái có thể sắp xảy ra (Mankiw, 2010), vì vậy, chính phủ cần quan tâm đến việc xem xét và đo lường các yếu tố tác động đến giá trị thị trường cổ phiếu. Theo Bùi Kim Yến (2008) giá trị trường là giá cả của cổ phiếu trên thị trường tại một thời điểm nhất định.
Tuỳ theo quan hệ cung cầu mà giá thị trường có thể thấp hơn, cao hơn hoặc bảng giá trị thực của nó tại thời điểm mua bán. Quan hệ cung cầu cổ phiếu, đến lượt nó lại chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội,. Trong đó, yếu tố quan trọng nhất là giá thị trường của một công ty và khả năng sinh lợi của nó. Giá thị trường có hai loại là giá mở cửa và giá đóng của, trong đó, giá đóng của là giá thực hiện tại lần khớp lệnh cuối cùng trong ngày giao dịch và giá mở cửa là chính là giá đã đóng của vào ngày giao dịch trước đó.
Chính vì vậy, để đảm bảo sự chính xác trong 8 việc xác định giá thị trường của cổ phiếu tác giả sẽ lựa chọn giá đóng cửa làm giá tham chiếu để tính giá trị thị trường của cổ phiếu qua từng năm. Ngoài ra, giá trị thị trường của cổ phiếu chịu tác động của yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Các lý thuyết về giá trị thị trường của cổ phiếu 2. Lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH) Lý thuyết thị trường hiệu quả được giả định trên nhiều cơ sở, các nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường phản ứng nhanh với các thông tin công bố mới.
Khi các thông tin mới về cổ phiếu xuất hiện, nhà đầu tư đánh giá lại giá trị nội tại của cổ phiếu và điều chỉnh giá một cách nhanh chóng. Do đó, tại bất kì thời điểm nào, giá cổ phiếu là sự phản ánh của tất cả các thông tin có sẵn và thể hiện ước tính tốt nhất về giá trị thực của cổ phiếu (Cleary và cộng sự, 2003). Có ba dạng của lý thuyết thị trường hiệu quả: dạng yếu, dạng bán mạnh và dạng mạnh. Tuy nhiên, dạng bán mạnh của EMH đã tạo cơ sở cho hầu hết các nghiên cứu (Russel và Torbey, 2002).
Dạng mạnh của EMH nói rằng giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin có sẵn, bao gồm cả thông tin cá nhân. Tuy nhiên, Russel và Torbey thấy rằng công trình nghiên cứu của Seyhun 1986 và 1998 cung cấp đầy đủ bằng chứng cho thấy những người trong công cuộc tìm kiếm lợi nhuận từ việc giao dịch dựa trên thông tin không được đưa vào giá cả (Russel và Torber, 2002). Do đó, dạng mạnh của EMH không tồn tại trong thế giới thực, rằng thị trường không hiệu quả đến mức đó. Dạng bán mạnh của EMH khẳng định rằng giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin công bố trong quá khứ cũng như thông tin vừa công bố xong, không có chứng khoán được định giá thấp hoặc định giá quá cao và do đó, các quy tắc giao dịch không có khả năng tạo ra lợi nhuận vượt trội.
Khi các thông tin mới được công bố, nó được tích hợp đầy đủ vào giá cả một cách nhanh chóng. Tính khả dụng của dữ liệu trong ngày cho phép các thử nghiệm cung cấp bằng chứng về thông tin công khai tác động đến giá cổ phiếu trong vòng vài phút (Russel và Torbey, 2002). Các dạng yếu của EMH cho rằng giá cả hoặc lợi nhuận trong quá khứ phản ánh giá cả hoặc lợi nhuận trong tương lai (Russel và Torbey, 2002). Tuy nhiên, cấu trúc của dạng yếu có thể được mở rộng để bao gồm dự đoán lợi nhuận trong tương lai với việc sử dụng tính toán cho các biến kinh tế vĩ mô (Russel và Torbey, 2002).
Các bất đồng về mức độ hiệu quả của thị trường nên được thử nghiệm hoặc đưa vào nghiên cứu thực nghiệm tiếp tục qua nhiều năm. Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên của giá chứng khoán Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên giả định rằng thông tin mới liên quan đến cổ phiếu được phổ biến một cách ngẫu nhiên. Do đó, những thay đổi về giá là ngẫu nhiên và không liên quan đến những thay đổi giá trước đó (Cleary và cộng sự, 2003). Vì vậy, lý thuyết cho chúng ta biết rằng nếu giá cổ phiếu tuân theo một bước đi ngẫu nhiên, thị trường có thể được cho là hiệu quả theo nghĩa là nó trừ hao tất cả thông tin có sẵn (Dockery và cộng sự, 2001).
Giả thuyết này đã được thử nghiệm rộng rãi ở cả những thị trường vốn (Dockery và cộng sự, 2001). Nhìn chung, bằng chứng hơi hỗn hợp (Dockery và cộng sự, 2001), tức là một số nhà nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng của các mô hình về giá cổ phiếu, trong khi các mô hình khác hỗ trợ cho lý thuyết bước đi ngẫu nhiên. Thuyết bước đi ngẫu nhiên cho rằng sự dao động trong giá chứng khoán không thể tiên đoán được. Điều này có nghĩa là mọi phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản lẫn phân tích khác… chỉ làm lãng phí thời gian của chúng ta mà thôi.
Thuyết bước đi ngẫu nhiên dựa trên nền tảng thị trường hoàn hảo. Có nghĩa là mọi thông tin đều phản ánh trong sự chuyển động của thị trường. Tuy nhiên, bằng cách vận dụng thuyết bước đi ngẫu nhiên, xác suất và toán học các nhà đầu tư hoàn toàn có thể thắng được thị trường. Lý thuyết kỳ vọng hợp lý Lý thuyết kỳ vọng Hợp lý dựa trên giả định rằng mọi người có lý trí và làm cho các quyết định kinh tế trở nên thông minh sau khi cân nhắc tất cả thông tin có sẵn và sẽ sử dụng nó một cách thông minh.
Những sai lầm trong quá khứ có thể tránh được bằng cách sử dụng thông tin để dự đoán sự thay đổi (Cleary và cộng sự, 2003). Lý thuyết này đề cập đến là một giả thuyết trong kinh tế học nói rằng các dự đoán của bên liên quan về giá trị của các biến kinh tế (ví dụ: tỷ lệ lãi) không sai một cách có hệ thống và độ lệch so với giá trị thực là ngẫu nhiên. Một phương thức công thức hóa là các kỳ vọng hợp lý là các kỳ vọng nhất quán với mô hình, theo đó các bên tham gia trong mô hình giả sử rằng dự đoán của mô hình là đúng. Giả sử về kỳ vọng hợp lý được sử dụng trong nhiều mô hình kinh tế vĩ mô đương đại (contemporary macroeconomic models), lý thuyết trò chơi và các ứng dụng khác trong lý thuyết lựa chọn hợp lý.
Lý thuyết kỳ vọng hợp lý định nghĩa kỳ vọng hợp lý (rational expectations) là các kỳ vọng giống hệt các phán đoán tốt nhất về tương lại sau khi đã sử dụng tất cả các 10 thông tin có sẵn. Như vậy, nó giả sử rằng kết quả đầu ra được dự báo không khác biệt cơ bản với kết quả của cân bằng thị trường. Theo đó, kỳ vọng hợp lý không khác căn bản hoặc khác mà có thể đoán được với kết quả cân bằng. Theo đó, nó giả sử rằng người ta không mắc lỗi hệ thống (systematic errors) khi dự báo tương lai, và các sai lệch của dự báo mang tính ngẫu nhiên.
Trong một mô hình kinh tế, lý thuyết này giả sử rằng giá trị kỳ vọng của một biến số sẽ bằng với giá trị được mô hình dự đoán.