CHƯƠNG 1: KỊCH TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT KỊCH 1. Kịch trong sáng tác của Nguyễn Đình Thi 1. Tác phẩm của Nguyễn Đình Thi Nguyễn Đình Thi là người đa tài. Nói như Nguyễn Trọng Tạo: “Ở đời người đa tài như Nguyễn Đình Thi đâu có nhiều, mà đa tài kiểu Nguyễn Đình Thi chỉ có một” (28;328).
Đặng Vương Hưng gọi ông là “lục sĩ” bởi là nhà văn, ông cũng là nhà thơ, nhạc sĩ, nhà soạn kịch, nhà lí luận phê bình, nhà văn hóa. Phẩm chất nghệ sĩ tài hoa ở Nguyễn Đình Thi bộc lộ sớm, mới 17-18 tuổi, ông đã viết hàng loạt sách giới thiệu về triết học; bài tiểu luận đầu tiên viết lúc 20 tuổi lập tức gây tiếng vang; hai ca khúc Diệt phát xít và Người Hà Nội ra đời trong hoàn cảnh ngẫu nhiên lại trở thành những nhạc phẩm vào loại lớn nhất của âm nhạc cách mạng. Nguyễn Đình Thi công bố 4 bài thơ thì ông đã trở thành đề tài tranh luận về thơ tự do, thơ không vần trong Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (1949); tiểu thuyết đầu tiên (Xung kích) đã đạt giải nhì; vở kịch đầu tiên (Con nai đen) gây nhiều xôn xao, sóng gió… Đúng là sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Thi ở mỗi thể loại không thật đồ sộ, thậm chí có thể loại ông chỉ đi qua nhưng ở lĩnh vực nào Nguyễn Đình Thi cũng có những tác phẩm được nhiều người biết đến. Các tiểu luận như Sức sống của nhân dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích, Nhận đường, Mấy ý nghĩ về thơ, Nam Cao, Nguyễn Tuân… Âm nhạc với Diệt phát xít và Người Hà Nội; Thơ có Không nói, Đường núi, Sáng mát trong như sáng năm xưa, Đất nước, Chim én, Lá đỏ,…; Truyện có Xung kích, Vỡ bờ,…; Kịch gồm Con nai đen, Rừng trúc, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Trương Chi… Nhà văn Tô Hoài nhận xét: “Thống kê tác phẩm của Nguyễn Đình Thi có thể thấy như là tự nhiên công việc đi và viết”.
Phạm Tiến Duật thì cho rằng hai bài hát nổi tiếng của Nguyễn Đình Thi “chỉ ngẫu nhiên ra đời trong hoàn cảnh… 13 z nhưng còn là sự tất nhiên phải bật ra từ tài năng của một tâm hồn làm chủ giang sơn, làm chủ một công cuộc lớn (28;130). Không chuyên sâu ở riêng một thể loại nào nhưng nếu bảo rằng vì Nguyễn Đình Thi “ham” nhiều thứ quá nên sự nghiệp văn học nghệ thuật không “ra tấm, ra món” thì hình như không phải. Chính nhờ dấn thân vào sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc và kháng chiến, Nguyễn Đình Thi và nền âm nhạc cách mạng của ta mới có Diệt phát xít, Người Hà Nội, cũng như thơ hiện đại Việt Nam mới có Đất nước, Lá đỏ…Dù rằng công việc của một người quản lí cũng với những hoạt động chính trị khác gắn với những chặng đường vô cùng khó khăn của đời sống đất nước đã chiếm hầu hết thời gian của ông, khiến nhiều dự định sáng tác vẫn còn dang dở… Nhưng ta vẫn phải ngạc nhiên trước một khối lượng sáng tác không nhỏ thuộc đủ thể loại mà ông để lại. Sự từng trải và lịch lãm trong đường đời cùng với một vốn tri thức cao rộng và tài năng bẩm sinh… đã tạo nên ở Nguyễn Đình Thi một bản lĩnh, một cốt cách văn hóa.
Thành công của các tác phẩm của Nguyễn Đình Thi thuộc các loại hình nghệ thuật khác nhau lá sự hội tụ của những tinh túy chắt lọc, nhất là những khi Nguyễn Đình Thi thể hiện được chân thực, tự nhiên những cảm, những nghĩ của mình.2 Kịch trong hệ thống sáng tác của Nguyễn Đình Thi “Kịch không những là một nghệ thuật tổng hợp mà đúng hơn, một giao hưởng nghệ thuật” (Đỗ Đức Hiểu). Trong kịch có sự đan xen, hòa trộn của nhiều của nhiều lĩnh vực nghệ thuật, nó là một cung đàn nhiều âm sắc. Kịch chỉ thực sự phát huy vai trò và bộc lộ rõ đặc trưng của mình khi được trình diễn trên sân khấu. Tuy nhiên không phải kịch bản nào cũng được đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ, nhạc công… chuyển thể.
Từ kịch bản đến trình diễn là một quá trình không đơn giản, đạo diễn, diễn viên phải có những cách tân để vở kịch phù hợp với công chúng. 14 z Nguyễn Đình Thi viết kịch không nhiều. Mặc dù ông từng tâm sự “kịch là niềm say mê nhất của tôi trong suốt ba mươi năm qua” nhưng những gì ông để lại cũng chỉ gói gọn trong con số tròn trịa - mười vở kịch. Nhìn vào số lượng đó hẳn không phải là một gia tài lớn, nhưng nhìn vào dung lượng vấn đề được phản ánh thì đó lại là một sự đóng góp không nhỏ.
Mười vở kịch nhưng bề bộn biết bao suy tư, trăn trở, bao nỗi băn khoăn vì lẽ tồn vong của quốc gia, bao niềm day dứt về số phận, vận mệnh của con người, bao triết lý nhân sinh sâu sắc ẩn đằng sau dáng dấp của những câu chuyện đời thường. Kịch của Nguyễn Đình Thi là mảng sáng tác còn khá xa lạ với phần đông độc giả mặc dù ông viết kịch cách nay đã mấy chục năm, một số vở kịch từng chịu số phận long đong, oan ức. Vở Con nai đen lên sân khấu chỉ được vài buổi rồi bị cấm. Hoa và Ngần viết năm 1974, đoàn kịch Hà Nội dựng (đạo diễn Dương Ngọc Đức), chỉ xuất hiện duy nhất trong đêm tổng duyệt rồi cũng bị cấm.
Sau Hoa và Ngần, ông viết Giấc mơ nhưng đến 6 năm sau mới được xuất bản. Và đặc biệt là sự kiện về vở kịch lịch sử Nguyễn Trãi ở Đông Quan năm 1980. Nhà văn Hoàng Hữu Các kể lại: “Buổi công diễn đầu tiên, Nhà hát Lớn đông nghịt người xem. Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi dẫn kíp diễn ra sân khấu chào khán giả, và ông quay lại nói với các nghệ sĩ: “Không có nguyên mẫu nào ngoài đời để chúng ta bắt chước cả.
Anh chị em nghệ sĩ hãy đốt tim mình lên để chắp cánh cho tác phẩm”. Từ phút đó, cả nhà hát im phăng phắc… Rồi tiếng vỗ tay ào lên như sấm… mọi người ùa lên sân khấu tặng hoa, bắt tay, ôm hôn tác giả… Nhưng sau 8 buổi diễn, vở kịch có lệnh cấm. Số phận của vở Rừng trúc còn long đong hơn. Rừng trúc được viết trước Nguyễn Trãi ở Đông Quan, ngay tháng giáp tết 1978.
Nguyễn Đình Thi đã ôm bản thảo đến đoàn kịch Trung ương đọc cho nghệ sĩ Đào Mộng Long, Phạm Thị Thành, Tuệ Minh, cả ba đều xuýt xoa tấm tắc. Đoàn kịch định dàn dựng, nhưng không thành. Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi rất mê Rừng trúc từ ngày ấy và đem giới thiệu cho một số đoàn kịch (Đoàn kịch Trung ương, Nhà hát cải lương trung ương…), nhưng tất cả chỉ nằm trong dự 15 z định. Rừng trúc lặng lẽ tồn tại ở dạng bản thảo đánh máy và truyền từ tay người này sang người khác… Gần 10 năm sau, bước vào công cuộc đổi mới, Rừng trúc mới được công bố toàn văn trên tạp chí Tác phẩm mới.
Sau đó, đạo diễn Nguyễn Đình Nghi và đoàn kịch Hà Nội đưa vào kế hoạch dàn dựng, nhưng rồi phải gác lại bởi những lí do bất khả kháng. Chỉ cần điểm lại một số sự kiện tiêu biểu trong chặng đường sáng tác kịch của Nguyễn Đình Thi cũng đủ thấy số phận những vở kịch Nguyễn Đình Thi thăng trầm, khó nhọc đến thế nào. Nhưng là người mẫn tuệ và kiên nhẫn, Nguyễn Đình Thi bình tĩnh chấp nhận những rủi ro văn chương như chấp nhận một định mệnh. Ông nói: “Người làm công việc suy nghĩ và sáng tạo thường hay gặp trở ngại, khó khăn.
Biết vượt qua sự phê bình không đúng , đó là một bản lĩnh, và biết nghe sự phê bình đúng cũng là một bản lĩnh” (27;338). Là kẻ sĩ của thời đại mới, ông hiểu “Cuộc sống cách mạng nhiều sóng gió và căng thẳng như luôn thử thách cái sức nội tâm có thực của mình, cũng có thể nói nó không ngừng thử thách cả tư cách cầm bút của mình nữa”. Đi qua thời gian, Con nai đen, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc… đang được đánh giá lại như là những tác phẩm lớn, mang tầm tư tưởng sâu sắc và đã trở thành những sự kiện trong đời sống văn học của nước ta mấy chục năm qua. Thời gian cầm bút, Nguyễn Đình Thi hơn một lần tha thiết “Suy nghĩ và nguyện vọng của tôi là được viết những điều mình thấy là nên viết”.
“Tôi muốn tìm một câu trả lời về ý nghĩa kiếp sống của con người và phải tìm trong cội nguồn cách sống và cách nghĩ của dân tộc”. Nhìn lại 10 tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi: Con nai đen (1961), Hoa và Ngần (1974), Giấc mơ (1977), Rừng trúc (1978), Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979), Người đàn bà hóa đá (1980), Cái bóng trên tường (1981-1982), Tiếng sóng (1985), Hòn cuội (1983 - 1986) ta đều thấy sáng lên một cảm quan về thời đại, về lịch sử, dân tộc, con người với chiều sâu triết luận giàu tính nhân văn. Một số vấn đề lí luận về xung đột kịch 1.1 Khái niệm Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa “Kịch”: Cơ sở của kịch là những mâu thuẫn xã hội, lịch sử, hoặc những xung đột muôn thuở trong cuộc sống con người nói chung. Nét chủ đạo của kịch là kịch tính - một đặc tính tinh thần của con người do các tình huống gây nên, khi những điều thiêng liêng, cốt thiết không được thực hiện hoặc bị đe dọa.
Xung đột (conflict) là sự đối lập, sự mâu thuẫn được dùng như một nguyên tắc để xây dựng các mối quan hệ tương tác giữa các hình tượng của tác phẩm nghệ thuật. Xung đột có thể có nhiều phạm vi và cấp độ. Các xung đột thường xuất hiện dưới dạng những va chạm, tức là những đụng độ trực tiếp, sự chống đối giữa các thế lực hoạt động được mô tả trong tác phẩm: giữa tính cách với hoàn cảnh, giữa các tính cách với nhau, giữa những phương diện khác nhau của một tính cách (xung đột trong nội tâm)… Nhưng tập trung nhất là xung đột giữa những tính cách mang những quan niệm và đại diện cho những lực lượng khác nhau trong đời sống. Xung đột là đặc điểm về đề tài và chủ đề của kịch bản văn học.
Như Hegel đã nói: “Tình thế giàu xung đột là đối tượng ưu tiên của kịch”. Xung đột kịch là quá trình và kết quả tác động tương hỗ giữa các lực lượng đối kháng, là hình thức thể hiện cao nhất, sắc nhọn nhất và tập trung nhất của kịch tính, là đặc trưng thẩm mĩ cơ bản nhất của văn học kịch.