phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, cơ cấu của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xuất khẩu gạo trong bối cảnh hội nhập quốc tế Chƣơng 2: Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế những năm vừa qua Chƣơng 3: Mục tiêu, định hƣớng và các giải pháp đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2025 5 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN XUẤT KHẨU GẠO TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa 1. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa và các hình thức xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động kinh doanh ngoại thƣơng mà hàng hóa hay dịch vụ của quốc gia này bán cho quốc gia khác. Nói một cách đơn giản, xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa đƣợc đƣa ra khỏi lãnh thổ của một nƣớc, hoặc đƣa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ nƣớc đó đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay thƣờng diễn ra dƣới các hình thức: Hàng hoá Việt Nam bán ra nƣớc ngoài theo hợp đồng thƣơng mại đƣợc ký kết của các thành phần kinh tế của Việt Nam với các đối tác kinh tế ở nƣớc ngoài không thƣờng trú trên lãnh thổ Việt Nam. Hàng hoá mà các đơn vị, dân cƣ của Việt Nam bán cho nƣớc ngoài qua các đƣờng biên giới, trên bộ, trên biển, ở hải đảo và qua các tuyến hàng không. Hàng gia công chuyển tiếp. Hàng gia công để xuất khẩu thông qua một cơ sở ký hợp đồng gia công trực tiếp với nƣớc ngoài.
Hàng hoá do các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài bán cho ngƣời mua nƣớc ngoài nhƣng giao hàng tại Việt Nam. Hàng hoá do các chuyên gia, ngƣời lao động, học sinh, ngƣời du lịch nƣớc ngoài mang ra khỏi Việt Nam. Những hàng hoá là quà biếu, đồ dùng khác của dân cƣ thƣờng trú nƣớc 6 ta gửi cho thân nhân, các tổ chức, hoặc ngƣời nƣớc ngoài khác. Những hàng hoá là viện trợ, giúp đỡ của chính phủ, các tổ chức và dân cƣ thƣờng trú nƣớc ta gửi cho chính phủ, các tổ chức, dân cƣ nƣớc ngoài.
Quan điểm về xuất khẩu trong các lý thuyết ngoại thương Từ thế kỷ 18, các nhà kinh tế học Adam Smith và David Ricardo đã đƣa ra “Lý thuyết lợi thế tuyệt đối”, “ Lý thuyết lợi thế so sánh”. Những lý thuyết này cho đến nay vẫn đƣợc coi là những lý thuyết nền tảng của thƣơng mại quốc tế. Cùng với đó, lý thuyết về “Lợi thế cạnh tranh” cũng đƣợc coi là cơ sở để hoạch định chiến lƣợc và sách lƣợc của từng quốc gia, nhằm phát huy các lợi thế tuyệt đối và so sánh trong quá trình sản xuất và trao đổi thƣơng mại. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối Thực chất của lợi thế tuyệt đối là việc so sánh chi phí sản xuất tuyệt đối của một loại sản phẩm ở các nƣớc khác nhau.
Nƣớc có chi phí sản xuất cao hơn sẽ nhập khẩu sản phẩm đó từ nƣớc có chi phí sản xuất thấp hơn, mọi nguồn lực sẽ đƣợc tập trung cho việc sản xuất sản phẩm mà nƣớc đó có chi phí sản xuất thấp hơn để xuất khẩu. Theo Adam Smith, chi phí sản xuất tuyệt đối thấp bắt nguồn từ việc quốc gia đó có lợi thế về nguồn lực sẵn có nhƣ đất đai, khí hậu, lao động. Ở các nƣớc đang phát triển với nguồn tài nguyên dồi dào thì lý thuyết này hoàn toàn có ý nghĩa; nhƣng tại các nƣớc phát triển khi mà nguồn tài nguyên đã bị khai thác hoặc không có tài nguyên thì chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế ở đâu? Thƣơng mại quốc tế diễn ra thế nào? Vì thế cần phải xem xét lợi thế so sánh. Lý thuyết lợi thế tương đối Thƣơng mại quốc tế đã ra đời từ rất lâu và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của nhân loại.
Mỗi quốc gia đều có nguồn lực và khả năng sản xuất giới hạn, việc trao đổi buôn bán quốc tế sẽ mở rộng 7 khả năng tiêu dùng và sản xuất hàng hóa của một nƣớc. Lý thuyết lợi thế so sánh đƣợc hình thành dựa vào việc xem xét chi phí sản xuất so sánh để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm ở các nƣớc. Lợi thế so sánh đƣợc thực hiện trên nguyên tắc chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm có chi phí so sánh thấp hơn, sau đó trao đổi lấy sản phẩm có chi phí so sánh cao hơn nhằm thu lợi từ mức giá tƣơng đối rẻ hơn so với sản xuất trong nƣớc. Chẳng hạn: So sánh giữa các nƣớc Các mặt hàng đƣợc lựa chọn Vải (giờ/mét) Gạo (giờ/kg) Các nƣớc đƣợc lựa chọn Việt Nam 6 2 Nhật Bản 2 1 => Dựa vào bảng trên, Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối cả về vải lẫn gạo.
- Nếu lấy vải làm chuẩn so sánh: Việt Nam: 1 m vải = 3 kg gạo Nhật Bản: 1 m vải = 2 kg gạo => Ở Việt Nam, gạo rẻ hơn một cách tƣơng đối so với gạo ở Nhật. Hay Việt Nam có lợi thế so sánh tƣơng đối về gạo so với Nhật Bản. - Nếu lấy gạo làm chuẩn so sánh: Việt Nam: 1 kg gạo = 1/3 m vải Nhật Bản: 1 kg gạo = 1/2 m vải => Ở Nhật Bản, vải rẻ hơn một cách tƣơng đối so với vải ở Việt Nam Hay Nhật Bản có lợi thế so sánh tƣơng đối về vải so với Việt Nam. - Việt Nam không có lợi thế tuyệt đối về cả gạo lẫn vải, nhƣng Việt Nam vẫn có lợi thế tƣơng đối về gạo.
- Nếu mỗi nƣớc dành các nguồn lực để sản xuất ra những mặt hàng có lợi thế tƣơng đối, sau đó trao đổi với nhau thì cả hai nƣớc đều sẽ đƣợc hƣởng 8 thụ nhiều sản phẩm hơn. Trong nền kinh tế đóng cửa: Mỗi nƣớc sản xuất bao nhiêu sẽ hƣởng thụ bấy nhiêu. Việt Nam: g kg gạo và v mét vải Nhật Bản: g' kg gạo và v' mét vải Tổng sản lƣợng: (g + g') kg gạo, (v+v') mét vải. Trong nền kinh tế mở cửa: Mỗi nƣớc ƣu tiên sản xuất mặt hàng có lợi thế, giảm bớt mặt hàng còn lại Việt Nam: (g + 30) kg gạo, (v - 10) m vải Nhật Bản: (g' - 24) kg gạo, (v' + 12) m vải Tổng sản lƣợng (g + g' + 6) kg gạo, (v + v' + 2) m vải.
=> Có lợi hơn cho cả 2 quốc gia. Lợi thế so sánh Ngày nay, xu thế hội nhập và tự do hóa thƣơng mại diễn ra mạnh mẽ. Nó tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế, nhƣng cũng đặt ra thách thức rất lớn về sự cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Về nguyên lý, lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh đƣợc xét và đánh giá bởi các yếu tố tự nhiên, kinh tế và nó thuần túy ở dạng tiềm năng.
Các tiềm năng này sẽ không tạo sức mạnh đột phá nếu không có một kế hoạch khai thác hiệu quả, điều này cũng giống nhƣ một nƣớc tiềm năng tự nhiên rừng vàng biển bạc nhƣng vẫn nghèo đói nếu không có một giải pháp hữu hiệu để khai thác tiềm năng đó. Muốn khai thác tiềm năng, chúng cần đƣợc đặt trong mối quan hệ với các vấn đề chính trị và các chính sách kinh tế. Chỉ trên sơ sở khai thác hiệu quả các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội gắn với cục diện chính trị và các định hƣớng chiến lƣợc thuận lợi và hợp lý thì mới tạo ra sức mạnh tổng hợp trong sản xuất và xuất khẩu. Điều này đặc biệt quan trọng trƣớc sự phát triển nhƣ vũ bảo của khoa học công nghệ.
Nhƣ vậy, lợi thế so sánh không thể tồn tại cố định mà sẽ có sự chuyển 9 hóa thay đổi qua các giai đoạn. Từ đó, việc xác định lợi thế cạnh tranh sẽ làm cho mỗi quốc gia có thể chủ động khai thác lợi thế và tiềm lực của nền kinh tế trong sản xuất và xuất khẩu. Nhƣ vậy, Lợi thế cạnh tranh là sự biểu hiện tính trội của một hoặc một số mặt hàng nào đó về chất lƣợng và cơ chế vận hành của nó trên thị trƣờng, tạo nên sức hấp dẫn cho sản phẩm và thuận tiện cho khách hàng. Ngoài ra, lợi thế cạnh tranh còn đƣợc thể hiện trên các mặt: giá sản phẩm, khối lƣợng, thời gian giao hàng.
Lợi thế cạnh tranh còn bao gồm chi phí cơ hội và năng suất lao động cao, chất lƣợng sản phẩm tốt, đạt tiêu chuẩn quốc tế và thị yếu tiêu dùng trên các thị trƣờng cụ thể. Do vậy lợi thế cạnh tranh của một đất nƣớc là những nội dung mang tính giải pháp về chiến lƣợc và sách lƣợc của một đất nƣớc trong quá trình sản xuất trao đổi và thƣơng mại, nó giúp phát huy những lợi thế sẵn có của chính mình để tạo thành ƣu thế hàng hóa trong cạnh tranh nói chung và trong hoạt động ngoại thƣơng nói riêng. Vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng hóa đối với phát triển xã hội Hoạt động xuất khẩu hàng hoá của một quốc gia đƣợc thực hiện bởi các đơn vị kinh tế của quốc gia đó, mà phần lớn là thông qua các doanh nghiệp ngoại thƣơng. Nhƣ vậy, thực chất của hoạt động xuất khẩu hàng hoá của quốc gia là hoạt động xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp.
Hoạt động xuất khẩu không chỉ có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân mà còn đối với bản thân các doanh nghiệp tham gia. Đối với nền kinh tế quốc dân Là một nội dung chính của hoạt động ngoại thƣơng và là hoạt động đầu tiên trong hoạt động thƣơng mại quốc tế, xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng đối với trên toàn thế giới. Nó là một trong những nhân tố cơ bản để thúc đẩy sự tăng 10 trƣởng và phát triển kinh tế quốc gia: Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Ở các nƣớc kém phát triển, một trong những vật cản chính đối với sự tăng trƣởng kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn.
Vì vậy, nguồn vốn huy động từ nƣớc ngoài đƣợc coi là nguồn chủ yếu của họ cho quá trình phát triển.