Chương 1: Khái quát về hợp đồng và chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại 1. Khái quát về hợp đồng và hợp đồng thương mại 1. Khái quát về hợp đồng 1. Khái niệm về hợp đồng Khi xã hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức trao đổi hàng hóa thì hợp đồng đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sản.
Hợp đồng là hình thức pháp lý thích hợp và có hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hoá - tiền tệ. Ngày nay, phần lớn các quan hệ xã hội đều được điều chỉnh bằng hợp đồng. Vai trò và vị trí của chế định hợp đồng ngày càng được khẳng định trong mọi hệ thống pháp luật. Trong hệ thống pháp luật của một quốc gia, pháp luật về hợp đồng giữ vị trí vô cùng quan trọng.
Vai trò trung tâm của hợp đồng trong hệ thống kinh tế và pháp luật không phải là ngẫu nhiên, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường, nơi mà mọi hàng hoá, dịch vụ. phải được tự do lưu thông trên thị trường thì vai trò của hợp đồng ngày càng được thể hiện rõ hơn, bởi lẽ trong các quan hệ hợp đồng thì ý chí của các bên mang tính quyết định, về mặt nguyên tắc, pháp luật tôn trọng ý chí của các bên và chỉ can thiệp trong các trường hợp mà ở đó có sự giới hạn của pháp luật. Theo Bộ Luật Dân sự (2015), khái niệm hợp đồng như sau1: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Hợp đồng có bản chất là sự tự nguyện thoả thuận và thống nhất ý chí nhằm xác lập, thay đổi, hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể trong xã hội.
Hợp đồng là căn cứ pháp lý phổ biến làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Giao kết và thực hiện các hợp đồng chính là cách thức cơ bản để thực hiện hiệu quả các hoạt động kinh tế. Khi nghiên cứu hợp đồng và pháp luật về hợp đồng, chúng ta cần tập trung một số nội dung sau đây: Thứ nhất, hợp đồng phải thể hiện được sự tự do ý chí của các bên tham gia giao kết Hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong vận hành của nền kinh tế thị trường. 1 Điều 385, Bộ Luật Dân sự (2015).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chức năng cơ bản của hợp đồng quyết định bản chất và giá trị xã hội của nó trong điều kiện kinh tế xã hội của một quốc gia. Hiểu rằng hợp đồng là một loại giao ước mà đặc điểm chung của chúng là sự thống nhất ý chí 2. Tự do ý chí trong giao kết hợp đồng được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở Pháp vào thế kỷ XVIII. Lúc đầu nó đuợc coi là nguyên tắc độc tôn ý chí.
Nguyên tắc này cho phép các cá nhân tự do quyết định trong việc giao kết hợp đồng và khẳng định quyền của mỗi cá nhân tham gia vào giao dịch chỉ phụ thuộc vào chính họ mà không phụ thuộc vào pháp luật. Quan niệm này xuất phát từ việc cho rằng, nếu các cá nhân tự do giao kết thì sẽ đảm bảo được sự công bằng trong quan hệ hợp đồng. Nguyên tắc tự do ký kết hợp đồng đưa đến một hệ quả là hợp đồng khi đã đuợc ký kết thì có giá trị bắt buộc thực hiện. Việc thay đổi hợp đồng cũng chỉ có thể được thực hiện bởi sự thoả thuận của các chủ thể trong hợp đồng và không ai có quyền can thiệp vào quan hệ của họ cũng như không có quyền làm thay đổi ý chí của họ.
Khi nói đến hợp đồng ta hiểu các chủ thể trong đó bình đẳng cả về quyền và nghĩa vụ. Nhưng trên thực tế các bên tham gia ký kết hợp đồng thường không ngang bằng nhau mà có một bên mạnh hơn và một bên yếu hơn về kinh tế. Do đó không có sự tự do ký kết hợp đồng mà thường là một bên phụ thuộc vào ý chí của bên kia, bằng việc thông qua hợp đồng do bên mạnh hơn định sẵn. Chính vì vậy, hợp đồng không còn kết quả của sự thể hiện ý chí chung của các bên nữa mà nó trở thành hình thức biểu hiện của sự bất bình đẳng giữa các bên với nhau.
Do đó, đòi hỏi Nhà nuớc phải can thiệp đến các quan hệ này thông qua pháp luật và chế định hợp đồng ra đời giữ một vị trí rất quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng. Sự thay đổi từ quan điểm đề cao lợi ích cá nhân sang đề cao lợi ích xã hội đã làm thay đổi các nguyên tắc này. Thứ hai, hợp đồng là tập hợp những cam kết được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Chế định hợp đồng luôn tôn trọng sự tự do của các bên giao kết, song sự tự do đó phải giới hạn trong khuôn khổ pháp luật. Nói cách khác, pháp luật chỉ bảo vệ những cam kết không xâm hại đến trật tự pháp luật, trật tự công cộng.
Xuất phát từ nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự là tôn trọng quyền tự do ý chí của mọi cá nhân và các chủ thể khác trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của mình, pháp luật các nước đều cho phép các chủ thể được hoàn toàn tự do giao kết hợp đồng, miễn là sự tự do ý chí của các bên chủ thể khi giao kế hợp đồng “không được trái pháp 2 Ts. Ngô Huy Cương, 2009. Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay. Đại học Quốc gia Hà Nội.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 luật, đạo đức xã hội”3. Việc hình thành các hạn chế của nguyên tắc tự do trong ký kết hợp đồng xuất phát từ quan điểm bảo vệ trật tự công và lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, pháp luật sẽ bảo vệ lợi ích và quyền của các bên, song lợi ích này phải không được xâm hại đến trật tự và lợi ích công. Tuy nhiên, chế định hợp đồng mang tính bắt buộc song cũng hết sức linh hoạt, mềm dẻo.
Điều này không dễ dàng đạt được nếu như quy định pháp luật không được xây dựng theo hướng đề cao tự do ý chí của các bên, pháp luật chỉ can thiệp ở giới hạn cần thiết. Chủ thể của hợp đồng Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân. Luật thương mại (2005) quy định thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mai một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa.
Theo Luật thương mại (2005), hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo Luật thương mại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật thương mại4. Bộ luật dân sự quy định chủ thể hợp đồng là cá nhân, pháp nhân và các chủ thể này có năng lực hành vi dân sự. Bộ luật Dân sự (2015) quy định5:“năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự”. Theo đó, chủ thể của hợp đồng là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, pháp nhân và nhà nước là chủ thể đặc biệt.
Đối với chủ thể của hợp đồng thương mại thì thêm một điều kiện là ít nhất một trong các bên giao kết phải là thương nhân, tức là hoạt động có mục đích lợi nhuận. Chủ thể giao kết hợp đồng chính là chủ thể của hợp đồng hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Cần thấy rằng, người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật được quy định trong điều lệ; người có thẩm quyền giao kết hợp đồng doanh nghiệp tư nhân là cá nhân chủ sở hữu. 3 Văn phòng luật sư Tô Đình Huy, 2012.
Nguyên tắc giao kết hợp đồng.com/thong- tin/kien-thuc-ve-hop-dong/1616-nguyen-tac-giao-ket-hop-dong. 4 Khoản 3, Điều 1, Luật Thương mại (2005). 5 Khoản 1, Điều 16, Bộ Luật Dân sự (2015). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân.
Luật Thương mại (2005) quy định thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mai một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Đối với chủ thể của hợp đồng thương mại thì thêm một điều kiện là ít nhất một trong các bên giao kết phải là thương nhân, tức là hoạt động có mục đích lợi nhuận. Chủ thể giao kết hợp đồng chính là chủ thể của hợp đồng hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Cần thấy rằng, người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật được quy định trong điều lệ; người có thẩm quyền giao kết hợp đồng doanh nghiệp tư nhân là cá nhân chủ sở hữu.
Các loại hợp đồng chủ yếu Theo Bộ Luật Dân sự (2015), hợp đồng gồm các loại chủ yếu sau đây6: “1. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau. Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ. Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ.
Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính. Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó. Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định”. Theo các quy định về phân loại hợp đồng dân sự như trên, ta có thể thấy: Thứ nhất, phân loại hợp đồng dựa vào mối liên quan giữa chúng.
Nếu dựa vào mối liên quan về hiệu lực và chức năng giữa hai hợp đồng với nhau thì các hợp đồng này được xác định thành: (1) Hợp đồng chính: là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng kia; (2) Hợp đồng phụ: là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính.