Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý" do nghiên cứu sinh Đức Thị Hòa thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ và TS. Nguyễn Phương Lan, thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự (mã số: 9380103), bảo vệ năm 2022.
-
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Gia đình giữ vai trò tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng và môi trường hình thành nhân cách con người. Kết hôn là sự kiện pháp lý đầu tiên làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ, đặt nền móng xây dựng gia đình. Các đạo luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam (từ Luật năm 1959, 1986, 2000 đến Luật năm 2014) đều quy định cụ thể về điều kiện kết hôn. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại các trường hợp kết hôn trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đảo lộn trật tự gia đình và cản trở sự phát triển bình thường của xã hội.
Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành đã ban hành các chế tài xử lý bao gồm: chế tài hình sự (Bộ luật Hình sự), chế tài hành chính (Luật Cán bộ, công chức; Nghị định số 82/2020/NĐ-CP), chế tài dân sự (Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ luật Tố tụng Dân sự). Dù vậy, thực tiễn áp dụng cho thấy các quy định về biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật còn bộc lộ vướng mắc, bất cập liên quan đến quyền yêu cầu hủy kết hôn, phương thức giải quyết và xử lý hậu quả pháp lý. Số lượng vụ việc được xử lý trên thực tế còn chiếm tỷ lệ nhỏ so với thực tế phát sinh, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trước đây, các công trình khoa học phần lớn chỉ nghiên cứu một khía cạnh riêng lẻ hoặc dừng lại ở thời điểm thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu ở trình độ tiến sĩ về kết hôn trái pháp luật và toàn bộ hệ thống biện pháp xử lý trong bối cảnh thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cùng các văn bản pháp luật hiện hành liên quan.
-
Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý; phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng nhằm phát hiện những vướng mắc, bất cập; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu (5 nhiệm vụ cụ thể):
- Thứ nhất: Phân tích, đánh giá tổng quan tình hình các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý để xác định cơ sở lý luận, thực tiễn và khoảng trống cần tiếp tục làm rõ.
- Thứ hai: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chuyên sâu về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý như: khái niệm, đặc điểm, các hình thức và hậu quả pháp lý của việc kết hôn trái pháp luật.
- Thứ ba: Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý để chỉ ra những bất cập, hạn chế trong luật thực định.
- Thứ tư: Nghiên cứu thực tiễn thực hiện, áp dụng các quy định của pháp luật về kết hôn trái pháp luật và các biện pháp xử lý từ các vụ việc thực tế tại cơ quan có thẩm quyền; phát hiện điểm vướng mắc trong thực thi để làm cơ sở đề xuất kiến nghị.
- Thứ năm: Nghiên cứu và phân tích các quy phạm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới điều chỉnh về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý nhằm tham khảo kinh nghiệm phục vụ việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
-
Đối tượng nghiên cứu:
Các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý, thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, có sự đối chiếu so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới.
-
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Các quy định pháp luật liên quan đến kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, trọng tâm là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP và các văn bản hướng dẫn thi hành; có sự so sánh lịch sử với cổ luật và các đạo luật thời kỳ trước, cùng pháp luật một số quốc gia.
- Về thời gian: Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật từ khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành đến thời điểm nghiên cứu (năm 2022).
- Về không gian và chủ thể: Luận án chỉ nghiên cứu việc kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý giữa công dân Việt Nam với nhau ở trong nước, không nghiên cứu các trường hợp có yếu tố nước ngoài.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế, phân chia thành các nhóm công trình cụ thể:
Các công trình nghiên cứu trong nước
-
Luận án, luận văn:
- Nguyễn Văn Cừ (2005), Luận án Tiến sĩ Luật học: "Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam", đề cập đến tài sản trong trường hợp kết hôn trái pháp luật.
- Khoát Thị Thúy Hạnh (2008), Luận văn Thạc sĩ: "Chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000".
- Nguyễn Huyền Trang (2012), Luận văn Thạc sĩ: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn trái pháp luật trong tình hình xã hội hiện nay".
- Nguyễn Thị Lê Huyền (2013), Luận văn Thạc sĩ: "Hủy việc kết hôn trái pháp luật qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế".
- Nguyễn Kim Thoa (2014), Luận văn Thạc sĩ: "Hoàn thiện chế định kết hôn trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000".
- Võ Thị Thu Hiền (2014), Luận văn Thạc sĩ: "Cấm kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam".
- Phạm Thị Lan Anh (2014), Luận văn Thạc sĩ: "Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000 - Vấn đề lý luận và thực tiễn".
- Nguyễn Thanh Vân Hằng (2015), Luận văn Thạc sĩ: "Vi phạm điều kiện kết hôn của đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc Việt Nam".
- Bùi Thị Mừng (2015), Luận án Tiến sĩ Luật học: "Chế định kết hôn trong Luật Hôn nhân và Gia đình - vấn đề lý luận và thực tiễn".
- Phạm Thị Thảo (2015), Luận văn Thạc sĩ: "Kết hôn trái pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn".
- Tráng A Sáy (2016), Luận văn Thạc sĩ: "Hủy kết hôn trái pháp luật tại TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên".
- Nguyễn Tuấn Anh (2016), Luận văn Thạc sĩ: "Hủy kết hôn trái pháp luật và hậu quả pháp lý".
- Nguyễn Tài Dương (2017), Luận văn Thạc sĩ: "Hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014".
-
Bài viết trên các tạp chí chuyên ngành:
- Ngô Thị Hường (1999), "Những vấn đề về sự tự nguyện khi kết hôn", Tạp chí Luật học, số 1.
- Ngô Thị Hường (2001), "Mấy vấn đề về quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính", Tạp chí Luật học, số 6.
- Thứ Công Khanh (2007), "Bàn về hủy việc kết hôn trái pháp luật", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4.
- Bùi Thị Mừng (2011), "Quyền kết hôn và ly hôn của phụ nữ Việt Nam và Thái Lan nhìn dưới góc độ so sánh luật", Tạp chí Luật học.
- Bùi Thị Mừng (2013), "Một số vấn đề về cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính", Tạp chí Luật học, số 1.
- Bành Quốc Tuấn (2015), "Những điểm tiến bộ của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài", Tạp chí Nghề Luật, số 7.
- Huỳnh Thị Trúc Giang (2016), "Kết hôn giả tạo và hướng xử lý trong giai đoạn chuyển tiếp giữa Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1.
- Nguyễn Thị Lan (2016), "Chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014", Tạp chí Luật học, số 9.
-
Đề tài nghiên cứu khoa học, kỷ yếu hội thảo và sách tham khảo:
- Các đề tài cấp trường tại Trường Đại học Luật Hà Nội do PGS.TS./TS./ThS. Nguyễn Văn Cừ chủ nhiệm: Đề tài "Giải quyết vấn đề hôn nhân thực tế theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam" (2003); Đề tài "Nghiên cứu phát hiện những bất cập của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000" (2011); Đề tài "Cơ sở lý luận và thực tiễn của những điểm mới trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014" (2015).
- Kỷ yếu hội thảo "Tổng kết 12 năm thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000" của Bộ Tư pháp (2013), với các tham luận của Nguyễn Việt Tiên, Ủy ban Dân tộc của Quốc hội, UBND thành phố Hà Nội.
- Sách: Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường (2002), "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000", Nxb Chính trị quốc gia; Nguyễn Ngọc Điện (2003), "Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và Gia đình", Nxb Trẻ TP.HCM; Đinh Thị Mai Phương (chủ biên - 2000), "Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và Gia đình", Nxb Chính trị quốc gia.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Luận án điểm cứu các công trình nghiên cứu quốc tế:
- Mary Hayes, Catherine Williams (1989), Family law principles, policy and practice, Butterworths.
- Insun Yu (1994), Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII, nghiên cứu cấu trúc gia đình và điều kiện kết hôn thời Lê qua Quốc triều hình luật.
- Charles L. Jones, Lorne Tepperman, Susannah J. Wilson (2002), Tương lai của gia đình (bản dịch của Tạ Võ Quảng Hà), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
- M.V. Lee Badgett (2009), When Gay people get married: What happens when societies legalize same-sex marriage, New York University Press.
- Louise Banks (2009), "What's the Legal Difference Between Annulment and Divorce?", phân tích các căn cứ hủy bỏ hôn nhân (bigamy, cưỡng bức, gian lận, cấm kết hôn, bệnh tâm thần, mất khả năng kết hôn, chưa đủ tuổi) theo pháp luật Hoa Kỳ.
- Legal Aid of North Carolina (2014), "Family: Annulment or Cancellation of Marriage", quy định về hủy hôn nhân do vi phạm độ tuổi, kết hôn giả tạo, lừa dối, quan hệ cận huyết, mất năng lực hành vi.
- Citizens Information Centre - Ireland (2016), "Nullity of marriage", lý luận về hủy bỏ hôn nhân bất hợp pháp và hậu quả pháp lý.
- Các tài liệu về hôn nhân giả tạo tại Úc ("What are the consequences of a fake marriage in Australia?"), vô hiệu hóa hôn nhân tại Ấn Độ ("Nullification of Marriage - An Annulled Marriage"), nghiên cứu của Darryl W. về hôn nhân bất hợp pháp trong tôn giáo, và Eleanor Momberg (2010) về xử lý hôn nhân giả tạo tại Nam Phi ("Illegally cancelling marriages").
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Phần lớn các công trình trước đây tập trung vào Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, chủ yếu đi sâu vào một biện pháp dân sự là "hủy việc kết hôn trái pháp luật", ít công trình nghiên cứu bao quát cả ba biện pháp dân sự, hành chính và hình sự. Hơn nữa, thực tiễn áp dụng sau khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 82/2020/NĐ-CP được ban hành chưa được cập nhật và đánh giá toàn diện ở cấp độ một luận án tiến sĩ luật học. Luận án này giải quyết khoảng trống đó bằng cách xây dựng hệ thống lý luận và giải pháp lập pháp đồng bộ, kết hợp cả ba nhánh chế tài.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Bản chất pháp lý của kết hôn và điều kiện kết hôn:
Luận án tiếp cận bản chất của việc kết hôn (giá thú) từ quan điểm pháp lý: kết hôn không đơn thuần là một khế ước (un contrat) phát sinh từ sự thỏa thuận đơn phương của hai cá nhân, mà là một định chế pháp lý (une institution) gắn với trật tự công và lợi ích xã hội. Hai bên nam nữ khi kết hôn phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định bắt buộc của pháp luật, không thể tùy ý thay đổi điều kiện hay hiệu lực của hôn nhân.
- Hai phương diện của kết hôn:
- Kết hôn với tư cách là sự kiện pháp lý: Là một cấu thành sự kiện hỗn hợp (gồm hành vi bày tỏ ý chí tự nguyện của hai bên nam nữ qua hồ sơ đăng ký và hành vi công quyền của cơ quan đăng ký hộ tịch kiểm tra, cấp Giấy chứng nhận kết hôn).
- Kết hôn với tư cách là quan hệ pháp luật: Bao gồm đầy đủ ba yếu tố cấu thành: chủ thể (nam và nữ; các bên kết hôn với cơ quan nhà nước có thẩm quyền), khách thể (quan hệ nhân thân, tài sản vợ chồng và trật tự quản lý nhà nước về hộ tịch), nội dung (các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên và của cơ quan đăng ký).
- Khái niệm kết hôn trái pháp luật: Luận án định nghĩa kết hôn trái pháp luật là việc kết hôn đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật hiện hành.
- Phân định kết hôn trái pháp luật với các hành vi vi phạm khác:
| Tiêu chí phân định |
Kết hôn trái pháp luật |
Đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền |
Chung sống như vợ chồng trái pháp luật |
Chung sống như vợ chồng không trái pháp luật |
| Đăng ký kết hôn |
Có đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. |
Có đăng ký nhưng cơ quan thực hiện không đúng thẩm quyền theo luật định. |
Hoàn toàn không đăng ký kết hôn. |
Hoàn toàn không đăng ký kết hôn. |
| Vi phạm điều kiện kết hôn |
Vi phạm một hoặc nhiều điều kiện kết hôn (tuổi, tự nguyện, điều cấm...). |
Không xem xét việc có vi phạm điều kiện kết hôn hay không. |
Vi phạm các điều cấm của luật (tảo hôn, đang có vợ/chồng, cận huyết...). |
Không vi phạm điều cấm (ví dụ: người mất NLHVDS hoặc người đồng giới sống chung). |
| Quy kết lỗi |
Thuộc về các bên kết hôn hoặc người thứ ba. |
Thuộc về cơ quan nhà nước thực hiện đăng ký. |
Thuộc về các bên tự nguyện chung sống. |
Không quy kết lỗi vi phạm điều cấm. |
| Hệ quả pháp lý |
Không làm phát sinh quan hệ vợ chồng hợp pháp; bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự. |
Thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân được tính từ lúc đăng ký sau khi khắc phục thủ tục. |
Không được pháp luật công nhận là vợ chồng; bị xử lý hành chính/hình sự nếu vi phạm điều cấm. |
Không làm phát sinh quan hệ hôn nhân; giải quyết hậu quả nhân thân, tài sản theo luật định. |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng về hôn nhân và gia đình. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích, hệ thống và logic học: Sử dụng xuyên suốt để làm sáng tỏ các khái niệm lý luận, cấu trúc quy phạm và mối liên hệ giữa các chế tài xử lý.
- Phương pháp tổng hợp và so sánh luật học: Tổng hợp các văn bản pháp luật qua các thời kỳ lịch sử Việt Nam và so sánh với pháp luật của các quốc gia khác (Hoa Kỳ, Úc, Ấn Độ, Ireland...).
- Phương pháp chứng minh, phương pháp xã hội học và xã hội học pháp luật: Sử dụng thông qua quan sát, trao đổi, tiếp cận thông tin, khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án và cơ quan hộ tịch để đánh giá thực trạng và số liệu vi phạm.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ: Cổ luật (Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long), các Bộ Dân luật thời Pháp thuộc (Bắc Kỳ 1931, Trung Kỳ 1936, Nam Kỳ 1883), Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, 1986, 2000, 2014; Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi 2017), Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.
- Thực tiễn xét xử, số liệu giải quyết các vụ việc hôn nhân gia đình từ Tòa án nhân dân các cấp và cơ quan đăng ký hộ tịch từ năm 2014 đến 2022.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở trong nước và nước ngoài, chỉ ra các khoảng trống khoa học và xác định 4 câu hỏi cùng các giả thuyết nghiên cứu của nghiên cứu sinh:
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Khái niệm kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật là gì? Ý nghĩa của việc áp dụng các biện pháp xử lý?
- Giả thuyết 1: Khái niệm này đã được nêu ở một số công trình nhưng chưa đầy đủ, toàn diện; luận án cần hoàn thiện định nghĩa và luận giải ý nghĩa xử lý.
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Phân biệt kết hôn trái pháp luật với các vi phạm pháp luật về kết hôn khác và những ảnh hưởng tiêu cực của kết hôn trái pháp luật?
- Giả thuyết 2: Các vi phạm khác gồm đăng ký không đúng thẩm quyền và chung sống như vợ chồng; cần làm rõ mức độ tác động tiêu cực đối với xã hội, gia đình và cá nhân.
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định như thế nào về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý; thực tiễn áp dụng ra sao?
- Giả thuyết 3: Pháp luật thực định còn bất cập về thẩm quyền, căn cứ hủy kết hôn và chế tài hành chính, hình sự; thực tiễn thi hành còn nhiều vướng mắc tại địa phương.
- Câu hỏi nghiên cứu 4: Những giải pháp nào cần thiết để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh?
- Giả thuyết 4: Cần hoàn thiện đồng bộ Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ luật Tố tụng Dân sự, pháp luật hành chính, hình sự cùng các giải pháp tổ chức thi hành (tuyên truyền, nâng cao năng lực cán bộ hộ tịch).
Chương 2: Lý luận về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý
Chương 2 làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nền tảng và khảo cứu lịch sử pháp luật cùng kinh nghiệm quốc tế:
- Lý luận về kết hôn và điều kiện kết hôn: Luận giải kết hôn dưới góc độ sự kiện pháp lý và quan hệ pháp luật; phân nhóm điều kiện kết hôn thành: (i) Điều kiện liên quan đến bản thân chủ thể (độ tuổi, sự tự nguyện, năng lực nhận thức và điều khiển hành vi - yếu tố nội thân); (ii) Điều kiện theo quy định cấm của pháp luật (kết hôn giả tạo, tảo hôn, cưỡng ép, lừa dối, vi phạm hôn nhân một vợ một chồng, cận huyết).
- Lý luận về biện pháp xử lý: Phân tích các chế tài điều chỉnh bao gồm chế tài dân sự (hủy kết hôn trái pháp luật), chế tài hành chính (xử phạt vi phạm hành chính) và chế tài hình sự (truy cứu trách nhiệm hình sự). Luận giải sự cần thiết và ý nghĩa của việc xử lý nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân tiến bộ, bảo vệ trật tự công và quyền con người.
- Lịch sử pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn:
- Cổ luật: Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật thời Lê) và Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn) quy định về ly hôn và tiêu hôn (biện pháp xử lý vi phạm điều kiện cấm kết hôn).
- Thời kỳ Pháp thuộc: Bộ Dân luật Bắc Kỳ (1931), Dân luật Trung Kỳ (1936), Dân luật Giản yếu Nam Kỳ (1883) quy định việc vi phạm điều kiện kết hôn dẫn đến hôn thú vô hiệu và bị tiêu hủy.
- Giai đoạn 1945 - 1975: Miền Bắc áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 và Thông tư số 112-NCPL (1972) của TANDTC; Miền Nam áp dụng Luật Gia đình 1-59, Sắc luật số 15/64 và Bộ Dân luật năm 1972 quy định về tiêu hủy hôn thú vô hiệu.
- Giai đoạn 1975 - 2014: Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 từng bước hoàn thiện căn cứ xử lý hủy kết hôn trái pháp luật và hậu quả pháp lý.
- Kinh nghiệm pháp luật quốc tế: Khảo cứu quy định tại Hoa Kỳ, Ireland, Úc, Ấn Độ, Nam Phi về hủy hôn nhân (annulment/nullity), chế tài nghiêm khắc đối với hôn nhân giả tạo (trục xuất, phạt tiền lớn, truy cứu hình sự) và cơ chế bảo vệ quyền lợi con chung sinh ra từ hôn nhân vô hiệu.
Chương 3: Pháp luật Việt Nam hiện hành về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý
Chương 3 phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật thực định Việt Nam:
- Xác định các trường hợp kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:
- Kết hôn dưới độ tuổi luật định: Nam chưa đủ 20 tuổi, nữ chưa đủ 18 tuổi (vi phạm điểm a khoản 1 Điều 8).
- Thiếu sự tự nguyện: Kết hôn do bị cưỡng ép, lừa dối (vi phạm điểm b khoản 1 Điều 8).
- Mất năng lực hành vi dân sự: Một hoặc cả hai bên bị mất năng lực hành vi dân sự tại thời điểm đăng ký kết hôn (vi phạm điểm c khoản 1 Điều 8).
- Vi phạm các trường hợp cấm kết hôn (khoản 2 Điều 5): Kết hôn giả tạo; tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời, giữa cha mẹ nuôi với con nuôi hoặc từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
- Kết hôn giữa những người cùng giới tính: Đối chiếu quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 ("Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính").
- Hệ thống biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật:
- Biện pháp dân sự - Hủy việc kết hôn trái pháp luật: Phân tích quyền yêu cầu hủy của cá nhân, cơ quan, tổ chức (Điều 10); thẩm quyền và thủ tục giải quyết của Tòa án nhân dân (Điều 11); xử lý hậu quả pháp lý khi hủy kết hôn trái pháp luật về quan hệ nhân thân (chấm dứt như không có quan hệ vợ chồng), quan hệ tài sản (giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng và tài sản chung theo phần, bảo vệ quyền lợi của bên ngay tình) và quyền lợi con chung (áp dụng như trường hợp cha mẹ ly hôn theo Điều 12).
- Biện pháp hành chính: Áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đối với các hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn, kết hôn giả tạo, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng.
- Biện pháp hình sự: Áp dụng các điều khoản tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội danh: Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng; Tội tổ chức tảo hôn khi có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
Chương 4: Thực trạng kết hôn trái pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý
Chương 4 đánh giá thực tiễn thi hành và đưa ra các định hướng, giải pháp cụ thể:
- Thực trạng và nguyên nhân vi phạm: Tình trạng kết hôn trái pháp luật diễn biến phức tạp, chủ yếu là tảo hôn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và kết hôn giả tạo tại các đô thị. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nhận thức pháp luật hạn chế, ảnh hưởng của phong tục tập quán lạc hậu, công tác quản lý hộ tịch tại cơ sở còn sơ hở và trình độ chuyên môn của một bộ phận công chức tư pháp - hộ tịch chưa đáp ứng yêu cầu.
- Vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật:
- Bất cập trong việc xác định thẩm quyền và thời điểm xử lý khi hai bên đã đủ điều kiện kết hôn tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy.
- Vướng mắc trong phân định và chứng minh tài sản chung, tài sản riêng khi xử lý hậu quả của việc hủy kết hôn trái pháp luật.
- Thiếu cơ chế phối hợp đồng bộ giữa Tòa án nhân dân, cơ quan Công an và cơ quan đăng ký hộ tịch trong việc tước bỏ giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận kết hôn đã cấp trái pháp luật.
- Hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh:
- Hoàn thiện pháp luật Hôn nhân và Gia đình: Bổ sung quy định chi tiết về căn cứ bác yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật khi các bên đã đủ điều kiện kết hôn và có yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân; cụ thể hóa nguyên tắc chia tài sản và bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình.
- Hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan: Đồng bộ hóa các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về trình tự giải quyết việc hủy kết hôn trái pháp luật; rà soát, sửa đổi mức xử phạt và hành vi vi phạm trong Nghị định số 82/2020/NĐ-CP; hướng dẫn áp dụng thống nhất các cấu thành tội phạm trong Bộ luật Hình sự.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành: Đẩy mạnh phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) phù hợp với đặc thù từng vùng miền; nâng cao năng lực pháp lý và tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã; tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm các sai phạm trong đăng ký kết hôn.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý và thực tiễn như sau:
- Về mặt lý luận:
- Xây dựng và hoàn thiện khái niệm khoa học về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật; làm rõ bản chất pháp lý của giá thú là một định chế chứ không đơn thuần là khế ước.
- Làm sáng tỏ các tác động tiêu cực của việc kết hôn trái pháp luật đối với cá nhân, gia đình, trật tự xã hội và sự nghiêm minh của pháp luật.
- Hệ thống hóa quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và tổng hợp kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới về xử lý hôn nhân vô hiệu.
- Về mặt thực tiễn và hoàn thiện pháp luật:
- Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng kết hôn trái pháp luật và việc áp dụng đồng thời ba nhóm chế tài (dân sự, hành chính, hình sự) theo pháp luật Việt Nam hiện hành từ sau năm 2014.
- Chỉ ra những vướng mắc, mâu thuẫn và lỗ hổng trong luật thực định cũng như những khó khăn trong khâu tổ chức thi hành tại Tòa án và cơ quan đăng ký hộ tịch cơ sở.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm: sửa đổi các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự, xử phạt vi phạm hành chính, hình sự và hộ tịch; đi kèm các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp - hộ tịch và công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu việc kết hôn trái pháp luật giữa các công dân Việt Nam với nhau trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Các trường hợp kết hôn trái pháp luật có yếu tố nước ngoài (như kết hôn giả tạo nhằm mục đích xuất cảnh, nhập quốc tịch hoặc cưỡng ép kết hôn qua biên giới) chưa được đề cập sâu do giới hạn phạm vi đề tài.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
Mở rộng nghiên cứu các trường hợp kết hôn trái pháp luật có yếu tố nước ngoài; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tương trợ tư pháp quốc tế trong việc hủy kết hôn trái pháp luật và cơ chế phối hợp liên ngành (Tư pháp - Tòa án - Công an) trong việc cưỡng chế xử lý vi phạm hành chính, hình sự đối với các hành vi vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Luật (đặc biệt là chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự).
- Giảng viên, chuyên gia nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu pháp lý.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Chấp hành viên và đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch tại UBND các cấp.
- Các cơ quan làm công tác lập pháp, cơ quan tham mưu chính sách thuộc Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Quốc hội.
- Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
- Khung lý luận phân biệt kết hôn trái pháp luật với đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền và chung sống như vợ chồng.
- Khảo cứu lịch sử lập pháp Việt Nam từ thời phong kiến, Pháp thuộc đến nay và các tư liệu luật so sánh quốc tế về hủy hôn nhân bất hợp pháp.
- Các luận cứ khoa học phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Hộ tịch và văn bản hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hôn nhân gia đình.
Câu hỏi thường gặp
-
1. Theo luận án, kết hôn trái pháp luật khác với đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền ở những điểm cơ bản nào?
Trả lời: Kết hôn trái pháp luật là trường hợp các bên đã đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nhưng vi phạm một hoặc nhiều điều kiện kết hôn do luật định; lỗi thuộc về các bên kết hôn hoặc người thứ ba và hậu quả là không làm phát sinh quan hệ vợ chồng hợp pháp. Ngược lại, đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền là trường hợp các bên đăng ký tại cơ quan không có thẩm quyền theo lãnh thổ; lỗi thuộc về cơ quan nhà nước và quan hệ hôn nhân vẫn được xác định từ thời điểm đăng ký sau khi thực hiện đúng thủ tục.
-
2. Luận án xác định bản chất pháp lý của việc kết hôn là một "khế ước" hay một "định chế"?
Trả lời: Dựa trên phân tích lý luận và trích dẫn quan điểm của học giả Vũ Văn Mẫu, luận án khẳng định việc kết hôn (giá thú) là một định chế pháp lý (une institution) chứ không phải là một khế ước (un contrat). Hai bên nam nữ không thể tự ý ấn định hay thay đổi các điều kiện, quyền và nghĩa vụ theo ý chí riêng như trong hợp đồng dân sự mà phải phục tùng các quy định bắt buộc của luật nhằm bảo vệ trật tự công và đạo đức xã hội.
-
3. Việc xử lý kết hôn trái pháp luật trong pháp luật Việt Nam hiện hành được phân chia thành những nhóm biện pháp nào?
Trả lời: Luận án phân tích 3 nhóm biện pháp xử lý chính: (1) Biện pháp dân sự (Tòa án nhân dân ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và Gia đình và BLTTDS); (2) Biện pháp hành chính (xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 82/2020/NĐ-CP và Luật XLVPHC); (3) Biện pháp hình sự (truy cứu trách nhiệm hình sự theo các tội danh tương ứng trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).
-
4. Luận án phân biệt "chung sống như vợ chồng trái pháp luật" và "chung sống như vợ chồng không trái pháp luật" dựa trên căn cứ nào?
Trả lời: Căn cứ vào việc có vi phạm các điều cấm của pháp luật hay không. Chung sống như vợ chồng trái pháp luật là trường hợp nam nữ sống chung nhưng vi phạm các điều cấm (như chưa đủ tuổi, đang có vợ/chồng, cận huyết...). Chung sống như vợ chồng không trái pháp luật là trường hợp nam nữ sống chung nhưng không vi phạm điều cấm (ví dụ: người mất năng lực hành vi dân sự chung sống với nhau, hoặc người cùng giới tính chung sống với nhau).
-
5. Luận án có phạm vi nghiên cứu đối với các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài không?
Trả lời: Không. Theo xác định phạm vi nghiên cứu của tác giả, luận án chỉ nghiên cứu kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý giữa công dân Việt Nam với nhau ở trong nước, không nghiên cứu việc kết hôn trái pháp luật có yếu tố nước ngoài.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đức Thị Hòa là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về vấn đề kết hôn trái pháp luật và các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về bản chất định chế của kết hôn, phân định ranh giới giữa kết hôn trái pháp luật với các dạng vi phạm liên quan, đồng thời tổng hợp lịch sử lập pháp trong nước và kinh nghiệm pháp luật quốc tế. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy phạm và thực tiễn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cùng các văn bản liên quan, công trình đã chỉ ra những vướng mắc thực tế và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực thực thi của các cơ quan có thẩm quyền.