Chương 1: Lý thuyết về mua lại và sáp nhập các công ty và các ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng mua lại và sáp nhập các ngân hàng trên thế giới Chương 3: Những vấn đề đặt ra đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO trước xu thế mua lại và sáp nhập Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 CHƢƠNG 1 LÝ THUYẾT VỀ MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP CÁC CÔNG TY VÀ CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và phân loại 1. Khái niệm mua lại và sáp nhập Mua lại và sáp nhập (M&A) trở thành một cụm từ được phát âm cùng nhau, tuy nhiên trên thực tế chúng có những điểm khác biệt. Nếu một công ty chiếm lĩnh hoàn toàn một công ty khác và đóng vai trò người chủ sở hữu mới thì được gọi là mua lại.
Trên góc độ pháp lý, công ty bị mua lại sẽ ngừng hoạt động, công ty tiến hành mua lại “nuốt” trọn hoạt động kinh doanh của công ty kia, tuy nhiên cổ phiếu của công ty đi mua lại vẫn được giao dịch bình thường. Sáp nhập 2 thương hiệu có nghĩa là tạo thêm giá trị cho 1 thương hiệu và loại bỏ giá trị của 1 thương hiệu khác. Sau khi sáp nhập thì thông thường chỉ còn 1 thương hiệu được tồn tại. Vì mục đích của sáp nhập là làm tăng tổng giá trị của thương hiệu đó, vì vậy mọi hoạt động bên cạnh việc sáp nhập phải được đánh giá về tài chính, về hoạt động, về pháp lý, pháp nhân, công nghệ và rất nhiều yếu tố khác.
Hiểu theo nghĩa giản dị nhất thì sáp nhập là việc hai công ty thường là có cùng quy mô, thống nhất sẽ cùng tham gia hợp nhất với nhau và trở thành một doanh nghiệp mới với tên gọi mới (hai cái tên cũ sẽ không còn tồn tại). Một thương vụ mua lại cũng được khoác lên cái tên sáp nhập nếu như ban giám đốc, điển hình là CEO của các bên thoả thuận sẽ ngồi cùng với nhau để mang lại lợi ích lớn nhất có thể cho cả hai bên. Ngược lại, nếu như tính “hữu hảo” không tồn tại – khi mà đối tượng bị mua lại không muốn, 7 thậm chí thực hiện các kỹ thuật tài chính để chống lại, thì nó hoàn toàn mang tính hình ảnh của một thương vụ mua lại. Như vậy, để xác định một thương vụ là sáp nhập hay mua lại cần phải xem đến tính chất hợp tác hay thù địch giữa hai bên.
Nói cách khác, nó chính là cách ban giám đốc, người lao động và cổ đông của công ty bị mua lại nhận thức về mỗi thương vụ. Ở Việt Nam, điều 107 và 108 Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã định nghĩa: Hợp nhất doanh nghiệp là “hai hay một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất”. Còn sáp nhập là: “Một hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”. Trong bài viết này, khái niệm công ty cùng loại trong hai điều luật trên xin được hiểu theo nghĩa là các công ty có cùng loại hình doanh nghiệp.
Ví dụ như trong thương vụ ANCO - một công ty tư nhân mới thành lập mua lại nhà máy sữa của Nestle tại Ba Vì, nhà máy sữa sẽ chấm dứt dạng thức tồn tại pháp lý và thuộc sở hữu của ANCO. Trong giai đoạn quá độ, thương hiệu sữa được đổi thành ANCO – Nestle, việc này cho thấy tính chất của sự hợp tác và có thể gọi tên là một thương vụ sáp nhập. Một thương vụ khác là Kinh Đô mua lại nhà máy kem Wall‟s của Unilever. Sản phẩm của thương vụ này là công ty Cổ phần KIDO – thành viên của tập đoàn Kinh Đô.
Điều khoản trong hợp đồng này là KIDO sẽ tiếp tục sử dụng thương hiệu kem Wall‟s trong một khoảng thời gian sau đó sẽ phải phát triển một thương hiệu kem riêng. Cách thức mà ANCO và Kinh Đô tiến hành cơ bản là giống nhau, đối tác bán là Nestle và Unilever đều tỏ thiện chí phối hợp, hỗ trợ phát 8 triển chẳng hạn Unilever có cam kết không hỗ trợ đơn vị cạnh tranh lại kem của Kinh Đô. Nếu chiếu theo luật Doanh nghiệp cách làm này không giống với hợp nhất mà nghiêng về hoạt động sáp nhập. Việc Kinh Đô mua phần lớn cổ phần của Tribeco và tham gia vào việc định hướng kinh doanh của Tribeco cho thấy thương vụ này cũng không thể được đặt ra ngoài phạm vi của thế giới M&A.
Tuy nhiên, Tribeco hay Kinh Đô vẫn tiếp tục vận hành bình thường, không có sự đóng cửa của một trong hai bên tham gia. Một số bài báo khi nhắc đến tình huống này thường sử dụng khái niệm mua lại hoặc thâu tóm. Nhưng dường như chỉ có một Thông tư của Bộ Tài chính về giao dịch chứng khoán trong đó có hướng dẫn về các quy định thực hiện và công bố thông tin trong giao dịch thâu tóm. Ngoài ra, chưa có một định nghĩa rõ ràng cho khái niệm thâu tóm như trong trường hợp sáp nhập và hợp nhất.
Trong trường hợp này, ta có thể xếp nó ở dạng hợp tác chiến lược cũng giống như các ngân hàng hiện nay đang bán cổ phần cho các tổ chức tài chính ngân hàng nước ngoài. Bên cạnh việc sáp nhập, hợp nhất giữa các đơn vị kinh doanh khác biệt nhau, một xu thế khác cũng đang được quan tâm là việc các tập đoàn, tổ hợp doanh nghiệp lớn bắt đầu cân nhắc việc tái cơ cấu, đóng gói giá trị và sáp nhập các công ty thành viên trong tổ hợp, tập đoàn đó để phục vụ cho quy hoạch chiến lược dài hạn. Nếu các đơn vị kinh doanh này chấm dứt tồn tại để cho ra đời một công ty mới nó được gọi chính xác với cái tên hợp nhất đã định nghĩa trong luật Doanh nghiệp. Một số hình thức sáp nhập Dựa vào cấu trúc của từng doanh nghiệp có khá nhiều hình thức sáp nhập khác nhau.
Dưới đây là một số loại hình được phân biệt dựa vào mối quan hệ giữa hai công ty tiến hành sáp nhập: 9 - Sáp nhập cùng ngành (hay còn gọi là sáp nhập chiều ngang): Diễn ra đối với hai công ty cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị trường. - Sáp nhập dọc: Diễn ra đối với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng ví dụ giữa một công ty với khách hàng hoặc nhà cung cấp của công ty đó. Chẳng hạn như nhà cung cấp ốc quế sáp nhập với một đơn vị sản xuất kem. - Sáp nhập mở rộng thị trường: Diễn ra đối với hai công ty bán cùng loại sản phẩm nhưng ở những thị trường khác nhau.
- Sáp nhập mở rộng sản phẩm: Diễn ra đối với hai công ty bán những sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan tới nhau trong cùng một thị trường. - Sáp nhập kiểu tập đoàn: Trong trường hợp này, hai công ty không có cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng muốn đa dạng hoá hoạt động lĩnh vực kinh doanh đa ngành nghề. Có hai hình thức sáp nhập được phân biệt dựa trên cách thức cơ cấu tài chính. Mỗi hình thức có những tác động nhất định tới công ty và nhà đầu tư: - Sáp nhập mua: Như chính cái tên này thể hiện, loại hình sáp nhập này xảy ra khi một công ty mua lại một công ty khác.
Việc mua công ty được tiến hành bằng tiền mặt hoặc thông qua một số công cụ tài chính. - Sáp nhập hợp nhất: Với hình thức sáp nhập này, một thương hiệu công ty mới được hình thành và cả hai công ty được hợp nhất trong công ty mới. Một số hình thức mua lại Chúng ta có thể thấy hoạt động mua bán chỉ khác đôi chút so với hình thức sáp nhập. Trên thực tế, nó có thể chỉ khác về mặt thuật ngữ.
Giống như sáp nhập, mua bán cũng nhằm mục đích đạt được lợi thế quy mô, tăng hiệu quả và thị phần. Không giống như tất cả các loại hình sáp nhập, mua bán liên quan đến một công ty mua lại một công ty khác chứ không phải hợp nhất để 10 tạo thành công ty mới. Mua bán luôn diễn ra tốt đẹp nếu quan hệ hai bên là ăn ý nhau và cảm thấy thoả mãn với thương vụ đó. Tuy nhiên, cũng có thể mua bán được diễn ra một cách hằn học – khi mà hai đối thủ dùng tiềm lực tài chính để thâu tóm nhau nhằm triệt tiêu sự cạnh tranh.
Trong mua bán giống như đối với một số giao dịch sáp nhập đã đề cập ở trên, một công ty có thể mua lại một công ty khác bằng tiền mặt, cổ phiếu hay kết hợp cả hai loại trên. Một hình thức khác phổ biến trong những thương vụ mua bán nhỏ hơn là mua tất cả các tài sản của công ty bị mua. Công ty X mua tất cả các tài sản của công ty Y bằng tiền mặt đồng nghĩa với việc công ty Y chỉ còn lại tiền mặt (và nợ nếu như có nợ trước đó). Đương nhiên, công ty Y chỉ là vỏ bên ngoài và cuối cùng sẽ thanh lý hoặc phải nhảy vào một lĩnh vực kinh doanh khác.
Một loại hình mua bán khác là sáp nhập ngược, diễn ra khi một công ty tư nhân mua lại một doanh nghiệp đã niêm yết trên sàn trong một thời gian tương đối ngắn. Thông thường khi một công ty tư nhân có triển vọng lớn và muốn tăng vốn sẽ mua một công ty đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán và biến mình thành một công ty đại chúng và được phát hành cổ phiếu. Nói chung, mục tiêu cuối cùng của tất cả các thương vụ mua lại sáp nhập là tạo ra sự cộng hưởng và nâng cao giá trị lớn hơn nhiều so với giá trị của từng bên riêng lẻ. Thành công của mua bán hay sáp nhập phụ thuộc vào việc có đạt được sự cộng hưởng hay không.
Các lý thuyết giải thích xu hƣớng mua lại và sáp nhập 1. Tính kinh tế của quy mô (Economics of scale) 1.