chương I) và quy tắc xuất xứ (chương O) xuất phát từ bản chất phức tạp của chúng. Nếu việc vận hành các biện pháp khác trong khuôn khổ các RTA có thể dựa vào các quy định nền tảng của WTO thì với 4 nhóm biện pháp này, sự đa dạng được nhìn thấy rõ nét căn cứ vào mục tiêu và mức độ hợp tác của các tổ chức khu vực. Là một quốc gia thành viên của WTO và đồng thời cũng là thành viên của ngày càng nhiều các RTA, việc rà soát, kiểm tra các quy định NTM (non-tariff measures - biện pháp phi thuế quan), quan tâm hơn đến việc ban hành dựa trên tính cần thiết, áp dụng trên cơ sở bằng chứng khoa học, minh bạch hóa các chính sách và biện pháp phi thuế quan là việc làm cần thiết cho Việt Nam.2 Các nguyên tắc cơ bản của WTO Hoạt động đàm phán, xây dựng và thực hiện nội dung của các biện pháp phi thuế quan trong các RTA đều phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản của WTO để vận hành thương mại toàn cầu vì xét về bản chất, mục đích của các RTA cũng tương tự như WTO là nhằm đẩy mạnh tự do hóa thương mại, chỉ có sự khác biệt ở mức độ thực hiện sự tự do hóa này. Vì thế, việc tìm hiểu và nắm rõ các nguyên tắc cơ bản là yêu cầu tối quan trọng khi tiến hành hoạt động thương mại ở các RTA, đặc biệt với nền tảng là 8 Trần Việt Dũng – Đặng Huỳnh Thiên Vy (2016), tlđd (7), tr.
9 UNCTAD, “International Classification of Non-Tariff Measures”, tr.org/en/PublicationsLibrary/ditctab20122_en. Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại tạo ra lợi ích kinh tế đặc biệt cho các quốc gia, khi tiến hành các hoạt động thương mại trong khuôn khổ hệ thống thương mại đa phương. Bên cạnh đó, hệ thống WTO còn có những nguyên tắc pháp lý khác để hỗ trợ cho việc áp dụng nguyên tắc trên được hiệu quả, bao gồm nguyên tắc minh bạch và dễ dự đoán, nguyên tắc cân bằng lợi ích.10 Xét về nội dung của nguyên tắc MFN, quy chế đãi ngộ tối huệ quốc đòi hỏi quốc gia phải dành cho đối tác thương mại của mình sự đối xử ưu đãi nhất và cấm phân biệt đối xử giữa các quốc gia đối tác. Mục đích của các quy định trên là nhằm đảm bảo sự bình đẳng đối với hàng hóa, dịch vụ… có nguồn gốc từ các nước thành viên, hay cụ thể là giữa các đối tác khi nhập khẩu từ cũng như xuất khẩu vào thị trường thành viên WTO.11 Như vậy, bản chất của vấn đề nằm ở nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm.
Bất kỳ một nội dung ưu đãi nào cũng phải đi kèm với việc chứng minh xuất xứ của sản phẩm để xác định mối quan hệ giữa các bên đối tác của WTO và một bên nào khác, từ đó phát sinh nghĩa vụ thực hiện nguyên tắc MFN giữa những đối tác này với nhau. Các yêu cầu cần phải đáp ứng của MFN là: (i) phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc,12 (ii) xác định “sản phẩm tương tự”, (iii) yêu cầu áp dụng “ngay lập tức và vô điều kiện”. Nếu việc tìm hiểu về phạm vi điều chỉnh sẽ giúp chúng ta xác định một sản phẩm hàng hóa có được xem xét theo Điều I của Hiệp định GATT 1994 hay không thì việc 10 Trường Đại học Luật TPHCM (2016), tlđd (2), tr. 11 Trường Đại học Luật TPHCM (2016), tlđd (2), tr.
12 Phạm vi điều chỉnh của Đối xử tối huệ quốc, theo như Điều I GATT 1994, bao gồm ba nhóm biện pháp: (i) thuế và các khoản thu, (ii) phương pháp đánh thuế hoặc áp dụng phụ thu, (iii) luật lệ và các thủ tục. Ngoài ra, MFN còn điều chỉnh các biện pháp được quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều III GATT về Đãi ngộ quốc gia, mà cụ thể là các biện pháp về thuế và các khoản thu nội địa, luật pháp, quy tắc và các quy định tác động đến việc bán hàng, chào bán, mua, chuyên chở, phân phối hoặc sử dụng sản phẩm trên thị trường nội địa. 11 xác định “sản phẩm tương tự” lại là một vấn đề quan trọng và khá phức tạp.13 Do bởi WTO cũng không có bất kỳ một định nghĩa cụ thể nào về “sản phẩm tương tự”14 mà việc xác định sẽ phải dựa trên bối cảnh cụ thể và cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ có những quan điểm cũng như những biện pháp để xác định các sản phẩm được xem xét có phải là “sản phẩm tương tự” hay không, mà cũng qua từng vụ kiện để làm rõ về định nghĩa này cho những vụ kiện sau.15 Yêu cầu “ngay lập tức và vô điều kiện” là sự cam kết của các quốc gia sẽ dành cho nhau sự đối xử ưu đãi nhất ngay khi xác định được sản phẩm có xuất xứ từ nước thành viên, theo đó các quốc gia thành viên phải thực hiện nó vô điều kiện trong tất cả các lĩnh vực thương mại của hệ thống trên nguyên tắc về thuế quan thì phải thực hiện nghĩa vụ cắt giảm còn về phi thuế quan thì phải đảm bảo các biện pháp này được thực hiện đúng mục đích và là một sự cần thiết. Xét về việc áp dụng nguyên tắc MFN trong WTO và trong các RTA, vì là một nguyên tắc vận hành thương mại nền tảng nên hầu hết các RTA đều quy định về nguyên tắc MFN trong các cam kết của mình.16 Điểm khác biệt giữa WTO và RTA là ở tính mục đích hướng đến của MFN, thể hiện bằng việc nguyên tắc MFN trong các RTA thường là áp dụng một cách có điều kiện.
Nói cách khác, các RTA hướng đến việc đảm bảo dành những ưu đãi thương mại tốt nhất trong phạm vi thành viên của RTA nên sẽ có những điều kiện nhằm hạn chế bên thứ ba, thông thường sẽ bằng cách đưa ra các quy định nghiêm ngặt về xuất xứ hàng hóa. WTO lại là một thiết chế toàn 13 Để xác định tính tương tự cần xét đến những tính chất sau: (i) thành phần, tính chất của sản phẩm là những yếu tố tạo nên sự độc nhất của sản phẩm và ảnh hưởng tương quan đến cạnh tranh; (ii) tính năng sử dụng của sản phẩm nhằm vào mục đích sử dụng cuối cùng của nó và (iii) thị hiếu và thói quen của người tiêu dùng ở việc có thể thay thế được cho nhau không. Trong đó, tiêu chí cơ bản nhất để xác định tính tương tự của các sản phẩm là sự phân loại thuế quan, được ghi nhận trong Hệ thống Hài hòa thuế quan (Harmonnized System HS). 14 Bên cạnh đó, thuật ngữ về “sản phẩm tương tự” còn được ghi nhận trong các Hiệp định khác của WTO như Hiệp định chống bán phá giá (Điều 2.6), Hiệp định về Trợ cấp và Thuế Đối kháng (Điều 15.1 và footnote số 46), theo đó: “Sản phẩm tương tự là sản phẩm giống hết sản phẩm đang xét hoặ có những tính chất giống với sản phẩm đang xét”.
15 Nguyễn Văn Phái – Phan Lê Thu Thủy (2016), “Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc trong GATT 1994: Từ quy định đến thực tiễn áp dụng”, Nghiên cứu lập pháp (19), tr. 16 Điều 5 Hiệp định ATIGA, Điều 4 Hiệp định EVFTA, Điều 29.4 Hiệp định CPTPP. 12 cầu, vì thế nguyên tắc MFN của WTO nhằm mở rộng quyền lợi đến mức tối đa cho các thành viên của WTO nên không quy định về điều kiện được hưởng.17 Như vậy, các ưu đãi được quy định trong MFN của WTO là các ưu đãi thông thường còn các ưu đãi do thực hiện nghĩa vụ MFN trong các RTA sẽ là các ưu đãi đặc biệt. Sự khác biệt về ưu đãi này chính là một hình thức của phân biệt đối xử nhưng WTO chấp nhận ngoại lệ này với quy định tại Điều XXIV GATT về các thiết chế thương mại khu vực.
Xét về việc áp dụng nguyên tắc MFN của Việt Nam, chế định về Đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia – Pháp lệnh MFN-NT được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành năm 200218 với nội dung thừa nhận các quy tắc, nêu phạm vi áp dụng chung và sau đó những nội dung cụ thể sẽ được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành như Luật Thuế Xuất nhập khẩu, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp… Từ góc độ pháp lý, Việt Nam là quốc gia theo trường phái nhị nguyên luật nên việc áp dụng các quy định từ pháp luật nước ngoài đòi hỏi quá trình nội luật hóa. Nguyên tắc MFN lại là nguyên tắc mang tính bao trùm nên với những lĩnh vực đặc thù riêng, nguyên tắc này cũng cần được thiết kế tương ứng cho phù hợp.19 Với việc trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đã trao đổi MFN với tất cả thành viên của tổ chức này. Trên cơ sở MFN của WTO, Việt Nam tiếp tục đàm phán và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do khác với mức độ tự do hóa cao hơn trong khi MFN đã trở thành hình thức đối xử tối thiểu chúng ta dành cho các đối tác.20 Cùng với quy chế MFN, quy chế NT là bộ phận cấu thành quan trọng của nguyên 17 Rohini Acharya (2016), Regional Trade Agreements and The Multilateral Trade System, World Trade Organization, tr. 18 Pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH10 ngày 25/5/2002.
19 Theo quy định tại Điều 6 Luật Điều ước quốc tế 2016 thì khi chấp nhận sự ràng buộc của Điều ước quốc tế (ĐƯQT), Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ sẽ đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp một phần hoặc toàn bộ ĐƯQT trong trường hợp quy định tại ĐƯQT đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện. Như vậy trên tinh thần này, việc trực tiếp áp dụng các điều khoản MFN từ các hiệp định quốc tế (GATT, FTA…) là phù hợp với thực tiễn và quy định tại Việt Nam. 13 tắc không phân biệt đối xử. Nếu quy chế MFN nhằm mục đích cấm sự phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại thì quy chế NT ngăn cản sự phân biệt đối xử giữa đối tác thương mại và nước nhập khẩu.21 Vấn đề này càng trở nên quan trọng khi các rào cản thương mại, đặc biệt là các rào cản phi thuế quan đang ngày càng tinh vi, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của nguyên tắc này.22 Nhận thức được sự không rõ ràng này có thể gây ra các hệ quả tiêu cực cho hoạt động thương mại toàn cầu, mục đích của nguyên tắc minh bạch lại nhằm định hướng phát triển lâu dài cho thương mại song phương, giúp thương nhân các quốc gia dự trù hoạt động xuất nhập khẩu cũng như có điều kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thuận lợi hơn.