Chương 1, những thực trạng và tiền đề ở chương 2, chương 3 sẽ trình bày những giải pháp nhằm xây dựng và phát triển NHĐT tại Việt Nam. xvii TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trên thế giới, ngành NHĐT đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm với rất nhiều nghiên cứu và tài liệu cơ sở liên quan. Nghiên cứu của D. Wilhelm (2007), “Investment Banking: Past, Present, and Future” phân tích quá trình hình thành và phát triển của ngành NHĐT trong quá, khứ diễn biến và xu hướng trong tương lai của hoạt động NHĐT thế giới.
Nghiên cứu về những nghiệp vụ của NHĐT, những thay đổi về mô hình tổ chức, xu hướng trong tương lai, những cơ hội và thách thức của hoạt động NHĐT trên thế giới được tác giả Liaw và K. Thomas (2011) trình bày trong cuốn sách “The Business of Investment Banking: A Comprehensive Overview”. Một nghiên cứu khác của Brian DeChesare và Daniel Schäfer (2014) "Small proves beautiful at boutique banks” cho thấy những hiệu quả tích cực từ mô hình NHĐT chuyên sâu quy mô nhỏ trên thế giới hiện nay. Những nghiên cứu này đều là cơ sở nền tảng cho hoạt động NHĐT trên thế giới nhưng chưa đề cập và nghiên cứu chi tiết về hoạt động NHĐT ở những nước đang phát triển như Việt Nam.
Tại Việt Nam, khái niệm NHĐT không còn là quá mới vì hiện nay các CTCK dần mở rộng và cung cấp các dịch vụ NHĐT, tuy nhiên những nghiên cứu về lĩnh vực này còn hạn chế. Nguồn cơ sở lý luận để nghiên cứu về NHĐT và làm cơ sở triển khai các hoạt động của nghiệp vụ NHĐT còn thiếu. Hiện nay, nguồn cơ sở chủ yếu chính là cuốn Cẩm nang về ngân hàng đầu tư (2009) của tác giả Mạc Quang Huy, trình bày tổng quát các nội dung cơ bản nhất về NHĐT. Trong cuốn cẩm nang này, cũng chỉ ra những tiềm năng để xây dựng và phát triển NHĐT tại Việt Nam.
Tuy nhiên nguồn dữ liệu chưa được cập nhật trong khi TTTC toàn cầu và ngành NHĐT lại chuyển động và phát triển không ngừng trong thời gian qua. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và cập nhật liên tục về NHĐT là điều hoàn toàn cần thiết. xviii Luận văn thạc sĩ của tác giả Đoàn Thị Việt Hà (2013) “Xây dựng mô hình ngân hàng đầu tư tại Việt Nam” đưa ra những nhận định về tình hình hoạt động nghiệp vụ NHĐT tại CTCK và phát triển mô hình NHĐT chuyên sâu từ các CTCK. Tuy nhiên, đề tài này chưa làm rõ tính cấp thiết phải xây dựng NHĐT và chưa đề cập đến tính hiệu quả của từng loại mô hình: như thành lập các công ty con tham gia hoạt động nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, thành lập nên những tập đoàn tài chính, chưa đề cập về CTQLQ và NHTM có tham gia hoạt động NHĐT để đánh giá chính xác và bao quát hơn về thực tế tình hình hoạt động và hướng đi trong tương lai của NHĐT tại Việt Nam.
Nghiên cứu của tác giả Tạ Hoàng Hà (2014) “Bàn về mô hình tổ chức hoạt động của ngân hàng đầu tư tại Việt Nam” chỉ ra hai mô hình hoạt động chính của ngân hàng đầu tư tại Việt Nam hiện nay là CTCK và ngân hàng tổng hợp kiểu Anh với NHTM sở hữu công ty con. Nghiên cứu này cho thấy hiện tại hoạt động kinh doanh của cả hai loại hình CTCK kể trên đều mất cân bằng với cơ cấu doanh thu không ổn định và chưa phát triển được các loại hình dịch vụ cơ bản của ngân hàng đầu tư là môi giới và bảo lãnh phát hành, thể hiện ở tỷ trọng doanh thu thấp của các dịch vụ trên. Tuy nhiên, nghiên cứu không chỉ ra giải pháp cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động NHĐT cũng như chưa đưa ra hướng đi trong thời gian tới. Dựa trên nền tảng lý luận chung về NHĐT trên thế giới, tác giả nhận thấy cần xem xét hoạt động của NHĐT theo các mô hình có thể phát triển, phân tích những mặt thuận lợi, cũng như hạn chế của từng loại mô hình và dựa trên thực tế điều kiện cụ thể của Việt Nam để lựa chọn hướng đi phù hợp sẽ khả thi hơn và đây không còn là vấn đề quá muộn để nghiên cứu vì thực về mặt thực tiễn cũng cho thấy việc nghiên cứu và xây dựng NHĐT là hoàn toàn cấp thiết.
CƠ SỞ LÝ LUẬN Phần đầu chương sẽ trình bày những lý luận cơ bản nhất về NHĐT, sau đó nêu lên quá trình hình thành và phát triển ngành NHĐT thế giới, phân tích tình hình hoạt động, hiệu quả hoạt động của các NHĐT thế giới trước và sau khủng hoảng kinh tế; đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm xây dựng và phát triển NHĐT từ các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Phần cuối chương phân tích về tính cấp thiết phải xây dựng NHĐT tại Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ 1. Khái niệm và chức năng của ngân hàng đầu tư 1.
Khái niệm Theo Mạc Quang Huy (2009), đứng trên quan điểm truyền thống: NHĐT được hiểu là một chủ thể trung gian với chức năng chính là tư vấn và thực hiện huy động nguồn vốn trên thị trường vốn trung, dài hạn cho khách hàng (bao gồm các doanh nghiệp cũng như các chính phủ). Thomas (2011), NHĐT gắn liền với các giao dịch trên thị trường tư nhân và thị trường công chúng cho các công ty, chính phủ và các nhà đầu tư. Các giao dịch này bao gồm mua bán, sáp nhập, phát hành riêng lẻ cổ phiếu, chứng khoán vốn hoặc kết hợp cả hai. Theo những khái niệm trên, có thể thấy NHĐT hiện đại mặc dù có nhiều thay đổi, mở rộng đối tượng và khá đa dạng về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên vẫn là một định chế tài chính trung gian chuyên về các nghiệp vụ hỗ trợ huy động vốn trung và dài hạn thông qua các nghiệp vụ phức tạp và có quy mô lớn như bảo lãnh phát hành, tư vấn mua bán, sáp nhập, tái cấu trúc và hoạt động như một nhà tạo lập thị trường.
Hay nói cách khác, về cơ bản NHĐT thực chất là một CTCK nhưng phát triển ở mức độ cao với các loại nghiệp vụ đa dạng và phức tạp hơn. 2 Những ngân hàng lớn và phổ biến bao gồm: Barclays, Goldman Sachs, Deutsche Bank, JP Morgan Chase, BUS, Credit Suisse, Citibank và Lazard. Một số NHĐT chuyên về phần lớn là khách hàng doanh nghiệp. Nhiều NHĐT cũng cấp dịch vụ bán lẻ phục vụ cho các khách hàng nhỏ và khách hàng cá nhân.
Chức năng của ngân hàng đầu tư Theo Mạc Quang Huy (2009), NHĐT có các chức năng chính: Chức năng nhà đầu tư và tạo lập thị trường: NHĐT thông qua nghiệp vụ đầu tư cho khách hàng (đầu tư thụ động) thực hiện chức năng nhà tạo lập thị trường. Ngoài ra, ngân hàng đầu tư còn thực hiện nghiệp vụ tự doanh (đầu tư chủ động), tức là việc ngân hàng chủ động nắm gữa trạng thái “trường“ hoặc “đoản” đối với các sản phẩm khác nhau. Chức năng tư vấn: đây là chức năng chủ yếu của NHĐT. Ngoài việc cung cấp các dịch vụ tư vấn phát hành chứng khoán, NHĐT còn tham gia tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, tư vấn chiến lược.
Với chức năng này, NHĐT đóng vai trò giúp khách hàng phân bổ tài sản đầu tư hợp lý và hoạt động hiệu quả hơn. Chức năng nhà cung cấp dịch vụ: với chức năng này, NHĐT giúp các quỹ đầu cơ thực hiện các giao dịch với nhà môi giới phụ, thu xếp vốn, thanh toán và đóng vai trò là nhà môi giới chính cho các quỹ này. Chức năng môi giới: NHĐT là chủ thể trung gian giữa người mua và người bán, chịu trách nhiệm tìm kiếm thông tin và kết nối bên mua, bên bán với nhau, qua đó hưởng một khoản phí. Bởi vì với chức năng này, NHĐT không sở hữu chứng khoán nên không chịu rủi ro biến động giá, không cần sử dụng vốn ngân hàng và có mức độ rủi ro thấp.
Chức năng nhận ủy thác: NHĐT có thể thay mặt khách hàng thực hiện các giao dịch do khách hàng quyết định và quản lý đầu tư cho khách hàng. Các nghiệp vụ và sản phẩm của ngân hàng đầu tư 1. Các nghiệp vụ của ngân hàng đầu tư Hai nghiệp vụ chính của NHĐT chính là tư vấn mua bán, sáp nhập và bảo lãnh phát hành chứng khoán (chứng khoán vốn – cổ phiếu, chứng khoán nợ hoặc kết hợp cả hai). NHĐT hỗ trợ khách hàng huy động vốn thông qua việc mua toàn bộ chứng khoán từ đơn vị phát hành và phân phối lại cho các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức.
NHĐT sẽ nhận được khoản thu từ chênh lệch giữa giá mua và giá bán. Nghiệp vụ cốt lõi thứ hai của NHĐT chính là tư vấn chiến lược hoạt động dựa trên mua, bán sáp nhập. Những dịch vụ chủ yếu cung cấp chính là tư vấn tái cấu trúc, thực hiện các giao dịch trong các thương vụ mua, bán, tách rời, sáp nhập và chống lại thâu tóm. Phí tư vấn thường được thương lượng, và đây là một trong những nghiệp vụ hấp dẫn vì nếu thắng hay thua các NHĐT vẫn nhận được khoản phí nhất định.
Những nghiệp vụ khác của NHĐT chính là tự doanh và ngân hàng bán buôn. NHĐT còn có thể sử dụng vốn của mình để kinh doanh hoặc đầu tư vốn của chính mình cũng từ các quỹ gia tăng từ bên ngoài và của các nhà đầu tư bất động sản. Quản lý đầu tư cũng là một phần của các nghiệp vụ NHĐT, theo đó các NHĐT sẽ cung cấp các nghiệp vụ chính là quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng và quản lý gia sản. Đây được xem là một nghiệp vụ hấp dẫn hơn vì ít chịu rủi ro hơn và đóng góp bền vững vào trong tổng doanh thu của NHĐT.
Ngoài ra, NHĐT cũng giúp khách hàng thực hiện các giao dịch chứng khoán qua nghiệp vụ môi giới, cho vay mua chứng khoán. Các sản phẩm của ngân hàng đầu tư Có nhiều cách phân loại khác nhau về sản phẩm của NHĐT, tuy nhiên nhìn chung sản phẩm chủ yếu mà các NHĐT cung cấp chính là cổ phiếu, trái phiếu, các sản phẩm phái sinh từ chứng khoán và các sản phẩm mới như đầu tư bất động sản, đầu tư 4 vốn tư nhân, các sản phẩm tài trợ vốn và các sản phẩm phái sinh từ hàng hóa cơ bản. Tùy theo mục đích của và mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng mà khách hàng có thể lựa chọn các sản phẩm này theo các dòng sản phẩm có thu nhập cố định hay dòng sản phẩm chứng khoán vốn có giá biến động theo thị giá của cổ phiếu.