Luận văn xây dựng khung pháp luật thương mại điện tử Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xây dựng khung pháp luật phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam. Phân tích thực trạng, yêu cầu pháp lý và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2006

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách xây dựng khung pháp luật phát triển thương mại điện tử hiệu quả

Xây dựng khung pháp luật phát triển thương mại điện tử là nhiệm vụ cấp thiết trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện tại Việt Nam. Khung pháp lý không chỉ tạo điều kiện cho hoạt động giao dịch trực tuyến diễn ra an toàn, minh bạch mà còn thúc đẩy sự tin tưởng của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Theo luận văn thạc sĩ Luật học của Lê Hà Vũ (2006), việc phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam là “đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan” trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, khung pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều khoảng trống, thiếu đồng bộchưa theo kịp thực tiễn. Một khung pháp lý hiệu quả cần dựa trên các nguyên tắc: tính thống nhất, tính hiện đại, tính tương thích với chuẩn mực quốc tế và khả năng thích ứng nhanh với công nghệ mới. Việc tích hợp các quy định về chữ ký số, hợp đồng điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhângiải quyết tranh chấp trực tuyến là những trụ cột không thể thiếu. Đặc biệt, khung pháp luật cần được xây dựng theo hướng mở, linh hoạt để không kìm hãm đổi mới sáng tạo trong môi trường số.

1.1. Khái niệm và vai trò của khung pháp luật thương mại điện tử

Khung pháp luật thương mại điện tử là hệ thống các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động giao dịch, mua bán, thanh toán và cung cấp dịch vụ qua môi trường số. Theo nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội (2006), khung này đóng vai trò nền tảng pháp lý cho sự phát triển bền vững của kinh tế số. Nó giúp xác lập giá trị pháp lý cho các hành vi trực tuyến, từ đó tạo niềm tin cho các bên tham gia. Không có khung pháp lý rõ ràng, thương mại điện tử dễ rơi vào tình trạng manh mún, rủi ro pháp lý caokhó kiểm soát.

1.2. Các trụ cột pháp lý thiết yếu trong khung pháp luật TMĐT

Một khung pháp luật TMĐT hoàn chỉnh phải bao gồm các trụ cột: giao dịch điện tử, chữ ký số và chứng thực điện tử, bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, bảo mật thông tin cá nhân, thanh toán điện tửgiải quyết tranh chấp. Mỗi trụ cột này đều có vai trò riêng nhưng phải vận hành đồng bộ. Ví dụ, Luật Giao dịch điện tử (2005) tại Việt Nam đã đặt nền móng cho giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử, nhưng vẫn thiếu các quy định chi tiết về thực thigiám sát.

II. Thách thức pháp lý trong phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam

Thực trạng pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều bất cậpchưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Dù đã có Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ thông tin và một số nghị định liên quan, hệ thống văn bản pháp luật vẫn mang tính tình thế, thiếu tính hệ thốnghiệu lực pháp lý thấp. Nhiều quy định chồng chéo giữa các bộ, ngành gây khó khăn cho doanh nghiệp trong tuân thủ. Một trong những thách thức lớn nhất là thiếu cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến hiệu quả, khiến người tiêu dùng e ngại khi mua sắm online. Ngoài ra, bảo vệ dữ liệu cá nhân chưa được quy định đầy đủ, trong khi đây là vấn đề then chốt trong môi trường số. Theo thống kê năm 2006, chỉ 10% doanh nghiệp Việt Nam có website phục vụ kinh doanh – một con số thấp cho thấy rào cản pháp lýthiếu niềm tin vẫn còn hiện hữu. Việc thiếu chuẩn mực quốc tế trong xây dựng luật cũng làm giảm khả năng hội nhập của doanh nghiệp Việt trên các sàn TMĐT toàn cầu như Amazon, Alibaba.

2.1. Khoảng trống pháp lý và sự chồng chéo văn bản

Nhiều lĩnh vực như thuế thương mại điện tử, quyền sở hữu trí tuệ số, hay trách nhiệm của nền tảng vẫn chưa được quy định rõ ràng. Các nghị định hướng dẫn thường ra đời chậm, dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất. Ví dụ, cùng một hành vi vi phạm có thể bị xử lý khác nhau ở các địa phương do thiếu hướng dẫn thống nhất từ trung ương.

2.2. Thiếu cơ chế bảo vệ người tiêu dùng và giải quyết tranh chấp

Người tiêu dùng trực tuyến tại Việt Nam thường gặp khó khăn khi khiếu nại do thiếu kênh giải quyết tranh chấp trực tuyến (ODR). Hệ thống tòa án truyền thống chưa được số hóa đầy đủ, dẫn đến chi phí caothời gian kéo dài. Điều này làm suy giảm niềm tin số – yếu tố then chốt cho sự phát triển TMĐT.

III. Phương pháp xây dựng khung pháp luật TMĐT theo chuẩn quốc tế

Để xây dựng khung pháp luật phát triển thương mại điện tử hiệu quả, Việt Nam cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế từ các tổ chức như UNCITRAL, WTO, ASEAN và các quốc gia đi đầu như Singapore, Hàn Quốc. UNCITRAL đã ban hành Mô hình Luật về Thương mại điện tử (1996)Mô hình Luật về Chữ ký điện tử (2001) – hai văn bản nền tảng được hơn 70 quốc gia áp dụng. Phương pháp tiếp cận nên dựa trên nguyên tắc công nghệ trung lập, nghĩa là luật không ưu tiên một công nghệ cụ thể nào, từ đó đảm bảo tính bền vữnglinh hoạt. Ngoài ra, cần áp dụng phương pháp so sánh pháp luật để lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam. Một khung pháp lý hiện đại cũng phải tích hợp các tiêu chuẩn kỹ thuật như ISO/IEC về an toàn thông tin, đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Công Thương, Bộ TT&TT, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tư pháp.

3.1. Bài học từ khung pháp lý TMĐT của Singapore và Hàn Quốc

Singapore áp dụng Electronic Transactions Act từ năm 1998 và liên tục cập nhật để phù hợp với công nghệ mới như blockchain và AI. Hàn Quốc thì xây dựng Framework Act on Electronic Transactions với hệ thống chứng thực điện tử quốc gia mạnh mẽ. Cả hai quốc gia đều chú trọng giáo dục pháp lý số cho doanh nghiệp và người dân – yếu tố then chốt giúp luật đi vào cuộc sống.

3.2. Vai trò của UNCITRAL và các hiệp định thương mại số

Các hiệp định như DEPA (Digital Economy Partnership Agreement) hay CPTPP yêu cầu các nước thành viên phải có khung pháp lý minh bạch về TMĐT. Việc tuân thủ các chuẩn mực này không chỉ giúp hội nhập quốc tế mà còn thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghệ và thương mại số.

IV. Giải pháp hoàn thiện khung pháp luật TMĐT tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp luật phát triển thương mại điện tử đòi hỏi chiến lược tổng thểhành động đồng bộ. Trước hết, cần sửa đổi Luật Giao dịch điện tử theo hướng mở, bổ sung quy định về hợp đồng thông minh, dữ liệu lớn, và trí tuệ nhân tạo trong giao dịch. Thứ hai, cần ban hành Luật Bảo vệ Dữ liệu Cá nhân – hiện đang trong quá trình xây dựng – để tạo niềm tin cho người dùng. Thứ ba, thống nhất hệ thống văn bản dưới luật bằng cách rà soát, bãi bỏ các quy định mâu thuẫn và ban hành nghị định hướng dẫn đầy đủ. Cuối cùng, cần xây dựng hệ thống ODR (Online Dispute Resolution) do Nhà nước hỗ trợ, kết nối với các sàn TMĐT lớn. Theo khuyến nghị của luận văn Lê Hà Vũ (2006), “việc xây dựng khung pháp lý phải đi đôi với nâng cao năng lực thực thi và nhận thức pháp luật của toàn xã hội”. Các giải pháp này cần được lồng ghép vào Chiến lược Quốc gia về TMĐT đến 2025 và tầm nhìn 2030.

4.1. Cập nhật luật giao dịch điện tử theo xu hướng công nghệ mới

Luật hiện hành chưa đề cập đến hợp đồng tự động, giao dịch qua API, hay trách nhiệm pháp lý của AI. Việc sửa đổi cần đảm bảo tính công nghệ trung lậpkhả năng thích ứng với các mô hình kinh doanh mới như nền tảng chia sẻ (sharing economy) hay Web3.

4.2. Xây dựng hệ thống giải quyết tranh chấp trực tuyến quốc gia

Một hệ thống ODR hiệu quả cần tích hợp trí tuệ nhân tạo, hòa giải điện tửcơ chế thi hành án số. Mô hình này đã thành công tại EU và Ấn Độ, giúp giảm tải cho tòa án và tăng tốc độ giải quyết khiếu nại trong vòng 15-30 ngày.

V. Ứng dụng thực tiễn của khung pháp lý TMĐT trong doanh nghiệp

Khung pháp luật phát triển thương mại điện tử không chỉ là công cụ quản lý nhà nước mà còn là tài sản pháp lý cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp tuân thủ đầy đủ quy định về hóa đơn điện tử, bảo vệ dữ liệuđiều khoản sử dụng sẽ dễ dàng mở rộng thị trường ra nước ngoài. Thực tế cho thấy, các sàn TMĐT như Shopee, Lazada đã đầu tư mạnh vào hệ thống tuân thủ pháp lý nội bộ để đáp ứng yêu cầu của nhiều quốc gia. Ngoài ra, doanh nghiệp SME khi áp dụng chữ ký sốhợp đồng điện tử có thể giảm 30-50% chi phí hành chính. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn thiếu hiểu biết pháp lý, dẫn đến rủi ro vi phạm như xử lý dữ liệu trái phép hoặc không lưu trữ chứng từ điện tử đúng quy định. Do đó, cần tăng cường tư vấn pháp lý miễn phíchương trình đào tạo số do Nhà nước và hiệp hội doanh nghiệp phối hợp thực hiện.

5.1. Lợi ích kinh tế khi tuân thủ khung pháp lý TMĐT

Doanh nghiệp tuân thủ pháp luật TMĐT có tỷ lệ tranh chấp thấp hơn 40%niềm tin khách hàng cao hơn. Ngoài ra, họ dễ dàng tiếp cận các dịch vụ tài chính số như cho vay dựa trên dữ liệu giao dịch, giúp cải thiện dòng tiền.

5.2. Rủi ro pháp lý thường gặp và cách phòng tránh

Các rủi ro phổ biến gồm: vi phạm quyền riêng tư, gian lận thanh toán, sử dụng phần mềm không có bản quyền. Giải pháp là xây dựng chính sách bảo mật rõ ràng, kiểm toán hệ thống định kỳđào tạo nhân sự về an toàn thông tin.

VI. Tương lai của khung pháp luật TMĐT trong kỷ nguyên số

Tương lai của khung pháp luật phát triển thương mại điện tử sẽ gắn liền với chuyển đổi số toàn diện, kinh tế nền tảngchủ quyền dữ liệu quốc gia. Việt Nam cần hướng tới một hệ thống pháp luật thông minh, có khả năng tự cập nhật dựa trên dữ liệu và phản hồi thực tiễn. Các công nghệ như blockchain có thể được dùng để lưu trữ hợp đồng bất biến, trong khi AI hỗ trợ giám sát tuân thủ pháp luật theo thời gian thực. Ngoài ra, cần xây dựng hành lang pháp lý cho metaversegiao dịch tài sản số – xu hướng mới toàn cầu. Theo dự báo của Bộ Công Thương, đến năm 2030, TMĐT Việt Nam có thể đạt 20% GDP, điều này đòi hỏi khung pháp lý phải vượt xa tư duy quản lý truyền thống. Cuối cùng, sự thành công của khung pháp luật không chỉ nằm ở văn bản mà ở năng lực thực thi, văn hóa tuân thủsự tham gia của toàn xã hội.

6.1. Pháp luật TMĐT và chủ quyền dữ liệu trong kỷ nguyên AI

Việt Nam cần quy định rõ nơi lưu trữ dữ liệu người dùng, quyền truy cập của cơ quan nhà nước, và trách nhiệm của nền tảng xuyên biên giới. Điều này giúp bảo vệ chủ quyền sốan ninh quốc gia trong bối cảnh dữ liệu trở thành “dầu mỏ mới”.

6.2. Hướng tới khung pháp lý TMĐT thích ứng và tự học

Mô hình pháp luật tương lai có thể tích hợp feedback loop từ doanh nghiệp, phân tích big data về vi phạm, và cập nhật tự động dựa trên thay đổi công nghệ. Đây là xu hướng đang được EU và Singapore thử nghiệm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn xây dựng khung pháp luật nhằm phát triển thương mại điện tử ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Thương mại điện tử và sự cần thiết của việo phát triển thương mại điện từ ớ nước la; Chương 2: Những yêu cầu pháp lý đối với thương mại điển tử và thực trạng của pháp luật nước ta về thương mại điện tử, Chương 3: Giải pháp xây dựng và hoàn thiên khung pháp luật nhằm. phát triển thương mại diện tử ở nước ta ngành luật, kinh tế như: bài viết của TS Mai lồng Quỳ về “Mới số vấn để pháp lý về thương mợi điện từ và việc án đụng ô Việt Nam” trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật; bài viết của Ths Nguyễn Minh Ilằng về “giao kết hợp đẳng điện tử và giaa kết hợp đồng nuyên thống — những vấn để khác biệt” trên tạp chí Kính tế đối ngoại; bài viết của Ths Lê Thị Thu Tlương về “Thương mại điện tử trong mỗi quan hệ với WTO và giải pháp đột phá đổi với Việt Nam”. Nhiều bài phát biểu về các khía cạnh của thương mại điện tử đã được các chuyển gia trình bảy tại các LIội thảo, hội nghị khoa học trong nước. Ở nước ngoài, theo tìm hiểu của chúng tôi, rất nhiều.

quốc gia như Đức, Trung Quốc, Mỹ. đều có các công trình nghiên cứu về thương mại điện tử. TIoa Kỳ có Tạp chí Nghiên cửu về thương mại điện tử của trường đại học Califomia với Hội đồng biên tập là các giáo sư danh tiếng của nhiều nước. Nhưng tiêu biểu nhất là cuốn *Thương mại điện tử và vai trò của WTO” của Marc Bacchetta, Patrick Low, Aa ditya Miattoo, Ludger Schuknecht, Ilannu Wager va Madelon Wehrens.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên chủ yếu lập trung vào ba hướng nghiên cứu chính. Một là, tập trung vào bản chất, đặc trưng, ý nghĩa của thương mại điện tử và những van đề hạ tầng kỹ thuật — gông nghệ Tlai la, có sự kết hợp giữa nghiên cứu bản chất của thương mại điện tử, những đời hỏi về hạ tầng công nghệ và hạ tầng pháp lý. Da là, tập trung đi sâu nghiên cứu một số khía cạnh pháp lý cụ thể của thương mại điện tử. Khác với những nghiên cứu trên.

trong để tài này, chúng tôi tập trung. nghiền cứu về hệ thống pháp luật của Việt Nam về thương mai điện tử ở giác độ khái quát, tổng thể, mà không nặng về các yếu té kỹ thuật của thương mai điện tử cũng như không tập trung quả sâu vào một hoặc một số vẫn đề pháp lý cu thể. Hơn nữa, luận văn nay được tiễn hành trong bối cảnh Việt Nam đã trở thánh thành viên thứ 150 của lỗ chức thương mai thể giới, đồng nghĩa với việc chủng ta phải thưc hiện cắc cam. kết, các "luật chơi” của Lễ chức ngành luật, kinh tế như: bài viết của TS Mai lồng Quỳ về “Mới số vấn để pháp lý về thương mợi điện từ và việc án đụng ô Việt Nam” trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật; bài viết của Ths Nguyễn Minh Ilằng về “giao kết hợp đẳng điện tử và giaa kết hợp đồng nuyên thống — những vấn để khác biệt” trên tạp chí Kính tế đối ngoại; bài viết của Ths Lê Thị Thu Tlương về “Thương mại điện tử trong mỗi quan hệ với WTO và giải pháp đột phá đổi với Việt Nam”.

Nhiều bài phát biểu về các khía cạnh của thương mại điện tử đã được các chuyển gia trình bảy tại các LIội thảo, hội nghị khoa học trong nước. Ở nước ngoài, theo tìm hiểu của chúng tôi, rất nhiều. quốc gia như Đức, Trung Quốc, Mỹ. đều có các công trình nghiên cứu về thương mại điện tử.

TIoa Kỳ có Tạp chí Nghiên cửu về thương mại điện tử của trường đại học Califomia với Hội đồng biên tập là các giáo sư danh tiếng của nhiều nước. Nhưng tiêu biểu nhất là cuốn *Thương mại điện tử và vai trò của WTO” của Marc Bacchetta, Patrick Low, Aa ditya Miattoo, Ludger Schuknecht, Ilannu Wager va Madelon Wehrens. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên chủ yếu lập trung vào ba hướng nghiên cứu chính. Một là, tập trung vào bản chất, đặc trưng, ý nghĩa của thương mại điện tử và những van đề hạ tầng kỹ thuật — gông nghệ Tlai la, có sự kết hợp giữa nghiên cứu bản chất của thương mại điện tử, những đời hỏi về hạ tầng công nghệ và hạ tầng pháp lý.

Da là, tập trung đi sâu nghiên cứu một số khía cạnh pháp lý cụ thể của thương mại điện tử. Khác với những nghiên cứu trên. trong để tài này, chúng tôi tập trung. nghiền cứu về hệ thống pháp luật của Việt Nam về thương mai điện tử ở giác độ khái quát, tổng thể, mà không nặng về các yếu té kỹ thuật của thương mai điện tử cũng như không tập trung quả sâu vào một hoặc một số vẫn đề pháp lý cu thể.

Hơn nữa, luận văn nay được tiễn hành trong bối cảnh Việt Nam đã trở thánh thành viên thứ 150 của lỗ chức thương mai thể giới, đồng nghĩa với việc chủng ta phải thưc hiện cắc cam. kết, các "luật chơi” của Lễ chức DANII MUC CAC TI VIET TAT APEC: Diễn dàn hợp tác kinh tế Châu A - Thái Bình Dương ASEAM: IIiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. ATM: May rút tiền tự déng BCVT: Bưu chỉnh viễn thông BLDS: Bộ luật dân sự CA: Tổ chức chứng thực CKĐT: Chữ ký điện tử CNTT: Công nghệ thông tin EU: Liên minh Châu Âu GDĐT: Giao dịch điện tử OKCID: Tễ chức Hợp tác phát triển kinh tế RAM: Bộ nhớ máy tính lạm thời SWIFT: Hệ thống viễn thông tài chính liên ngân hang toàn cầu TRIPs: Hiép định về quyền sở hữu trí tuệ TMBT: Thuong mại điện tử "TP.HCM: Thành phố Hồ Chỉ Minh UNCITRAL: Uy ban Liên Hợp quốc về Luật thương mại Quốc tế 'WTO: Tổ chức thương mại thế giới DANII MUC CAC TI VIET TAT APEC: Diễn dàn hợp tác kinh tế Châu A - Thái Bình Dương ASEAM: IIiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. ATM: May rút tiền tự déng BCVT: Bưu chỉnh viễn thông BLDS: Bộ luật dân sự CA: Tổ chức chứng thực CKĐT: Chữ ký điện tử CNTT: Công nghệ thông tin EU: Liên minh Châu Âu GDĐT: Giao dịch điện tử OKCID: Tễ chức Hợp tác phát triển kinh tế RAM: Bộ nhớ máy tính lạm thời SWIFT: Hệ thống viễn thông tài chính liên ngân hang toàn cầu TRIPs: Hiép định về quyền sở hữu trí tuệ TMBT: Thuong mại điện tử "TP.HCM: Thành phố Hồ Chỉ Minh UNCITRAL: Uy ban Liên Hợp quốc về Luật thương mại Quốc tế 'WTO: Tổ chức thương mại thế giới này, trong đó có van đề Thương mại điện tử, Quốc hội đã ban hành Luật giao địch điện tử làm cơ sở cho việc ban hành các văn bản trong các lĩnh vực cụ thể liên quan đến thương mại điện tử, Chính phủ đã ban hảnh Kế hoạch tống thể triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 2010, 8.

Mục đích và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là để xuất phương hướng và các giải pháp xây dựng, hoàn thiện khung pháp luật nhằm phát triển thương mại điện tử ở nước ta đáp ứng những yêu cầu của hội nhập và phát triển. Thương mại điện tử là một vấn đề phức tạp trong đó có cả những van đề và mặt kỹ thuật và công nghệ. Trong phạm vi một luận văn Thạc sĩ luật học, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu thương mại điện tửvề khía cạnh pháp tỷ. Mặt khác, chúng tôi không tham vọng có thể đi sâu khảo sát đầy đủ tất cả những nội dung pháp lý cụ thể của các lĩnh vực pháp luật liên quan đến Thương mại điện tử.

Do đó, luận văn sẽ nghiên cứu các vân. để ở mức độ khái quát và tổng thé hon. Cy thể là cần ban hành mới hay sửa đổi, bổ sung những văn bản pháp luật nảo và trong những văn bản đó phải giải quyết được những nhiệm vụ trọng tâm gì để hình thành nên một hung pháp lý điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thương mại điện tử. Phương pháp nghiên cứu Xuất phát từ những đặc thù của đối tượng và phạm vi nghiên cửu, các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu để tải này là - Phương pháp phân tích - tổng hợp, - Phương pháp so sánh, - Thống kê — phân loại; - Phương pháp 16 gic 5.

Nội dung nghiên cứu T.uận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau: MO DAU 1. Tính cấp thiết của dé tai Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của công nghé, đặc biệt là công nghệ thông tin. Máy tính được sử dụng phổ biến trong xã hội, trở thành một công cụ không. thể thiếu tại các cơ quan, doanh nghiệp, trường học và cả nhà riêng, Không chỉ là môt công cụ văn phòng đắc lực, máy tính còn là một công cụ sáng tạo, phương tiện sản xuất tại các doanh nghiệp, một công cụ ưu việt cho học tập và nâng cao kiến thức, một thiết bị giải trí đa năng, Sự lan truyền và phổ biến của Internet từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ trước đã có tác động sâu sắc tới đời sống xã hội nước ta.

Chúng ta có thể trao đổi thông tin dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn, tìm hiểu được nhiều thông tin hon từ kho tàng trí thức phong phú của nhân loại. Tính đến cuối tháng 7 năm 2006, Việt Nam có trên 3,688 triệu thuê bao internet. Số người sử dụng dịch vu này là khoảng 13,4 triệu, tương đương 16% dân số. Dự kiến đến năm 2010, tỷ lệ dân số sử dụng internet có thể đạt tới 359%." Internet cũng, trở thành một môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình quảng bá hình ảnh, xúc tiến thương mại, mở rông phạm vi giao dịch và kinh doanh ngay trên Internet.

Việc ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin vào lĩnh vực thương mại đã mang lại những kết quả, những giá trị to lớn đối với nhiều loại chủ thể khác nhau. Và điều này đã dẫn đến sự hình thành của một phương, thức kinh doanh mới - thương mại điện tử. Theo số liệu thống kê, doanh thu từ thương mại điện tử trên toàn thế giới trong năm 2000 là gần 280 tỉ USD, năm 2001 là gần 480 USD, năm 2002 là gần 825 tỉ USD, năm 2003 là hơn 1.400 tỉ USD, năm 2004 là gần 2.400 tỉ USD và năm 2005 là gần 4000 tỉ USD. Cac sé liéu nay cho thay thương mại điện tử tăng trưởng gần 70% mỗi năm.

Cũng theo thống kê, trong năm 2002, chỉ phí dành cho quảng cáo trên * Xem dja chi hitp:/Avww. asp 2ID=6124datalD=10497 (truy cập ngày 5/11/06). Tính cấp thiết của dé tai Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của công nghé, đặc biệt là công nghệ thông tin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ