đặt vấn đề chăm lo xây dựng và củng cố khối đoàn kết dân tộc trong điều kiện mới ở nước ta hiện nay. Trong cuốn: Hỏi đáp tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế và Mặt trận Dân tộc thống nhất, NXB Quân đội Nhân dân, 2008. Cuốn sách đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn về đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua các câu hỏi và trả lời cho chúng ta biết được vai trò và tác động của những giá trị truyền thống tốt đẹp dân tộc đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí minh về đại đoàn kết dân tộc; cơ sở thực tiễn trực tiếp tác động đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí minh về đại đoàn kết dân tộc.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế là một chiến lược cơ bản, lâu dài trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Luận điểm nổi tiếng của Người:“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công” đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt cả quá trình cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh cùng với đạo đức, nhân cách vô 15 z cùng cao thượng và trong sáng của Người đã quy tụ được khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế đấu tranh vì thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Nguyên tắc nhất quán trong tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là: Lấy liên minh công nông làm nền tảng, tập hợp rộng rãi nhất mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, vừa đoàn kết vừa đấu tranh, lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm nền tảng, trên cơ sở đó bảo đảm sự kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, bộ phận và toàn cục, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế vì mục tiêu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội… Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết là một chiến lược cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam, tư tưởng đó mãi mãi là một sức mạnh làm nên thắng lợi của cách mạng nước ta trong các thời kỳ.
Với tầm quan trọng của việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, nên ngoài các luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng, và các công trình nghiên cứu về vấn đề này còn có nhiều bài viết được công bố trên các sách, báo, tạp chí, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, đề cập đến tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, đó là: bài viết Về tư tưởng đại đoàn kết của chủ tịch Hồ Chí Minh, của PGS. Lê Ngọc đăng trên Tạp chí Lịch s Đảng (số 3), năm 1993; Tác giả Nguyễn Túc có bài viết: Thực hiện chiến lược Đại đoàn kết dân tộc, tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, đăng trên Tạp chí Thông tin lý luận (số 11), năm 1995; U ban Trung ương MTTQ Việt Nam có cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Năm 1999, GS. Đinh Xuân Lâm có bài viết về Tư tưởng Đại đoàn kết và chiến lược Đại đoàn kết Hồ Chí Minh, đăng trên Tạp chí Lịch s Đảng (số 3); PGS. Lê Doãn Tá, PGS.
Trần Xuân Sầm, TS. Nguyễn Văn Sáu (đồng chủ biên): Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ đổi mới đất nước - Vấn đề và kinh nghiệm. NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2002… Nội dung các công trình nghiên cứu, bài viết trên đều khẳng định vai trò của khối đại đoàn kết dân tộc trong Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và 16 z trong Cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng như trong sự nghiệp đổi mới hiện nay nói riêng; đề cập đến những thành công, tồn tại của việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới. Đây là những tài liệu có ích để người viết tham khảo, kế thừa khi nghiên cứu vấn đề.
Nhưng trong công tác lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là một vấn đề rộng lớn, quan trọng, thực tiễn đại đoàn kết dân tộc đang đặt ra nhiều vấn đề rất cần có một cái nhìn tổng thể, lịch sử để góp phần luận giải cho việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đai hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Các công trình có liên quan: Về phát huy s c mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Chủ biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, của Phạm Hồng Chương, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Góp phần nghiên c u Lịch s Đảng Cộng sản Việt Nam, của PGS. Trương Minh Dục, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009; Đại đoàn kết dân tộc phát huy nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, của Vũ Oanh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998;„„Sự lãnh đạo của Đảng và s c mạnh đại đoàn kết toàn dân” của GS. Nguyễn Phú Trọng, trong sách: “Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005; Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam quá kh và hiện tại, của PGS.
Trần Hậu, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011; Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam những chặng đường vẻ vang, của Ủy ban Trung ương - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011… Với các công trình trên, đã góp phần làm sáng tỏ hơn nữa lý luận về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam, khẳng định tầm quan trọng và vai trò của khối đại đoàn kết dân tộc đối với cách mạng Việt Nam. Từ những công trình trên có thể nhận thấy được sự chỉ đạo khéo léo, sáng suốt của Chủ tịch Hồ 17 z Chí Minh trong quá trình vận hành cách mạng Việt Nam. Người đã bổ sung thêm cho lý luận về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc bằng những luận điểm sáng tạo mới.
Đề cập tới vấn đề dân tộc, bình đẳng dân tộc, chính sách dân tộc có các công trình, bài viết: Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta [3], Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam [10], Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam [13], Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam [14]. Các công trình, bài viết tiếp cận vấn đề chính sách dân tộc từ lý luận phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phác họa bức tranh tổng thể về xung đột dân tộc đang diễn ra trên thế giới; đồng thời, nêu lên các bài học kinh nghiệm và phương hướng giải quyết để hạn chế những xung đột tộc người. Đối với Việt Nam, các tác giả đã nêu lên thực trạng mối quan hệ dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở trong nước hiện nay vẫn còn những hạn chế, tiềm ẩn những yếu tố có thể gây mất ổn định, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị để thực hiện tốt đường lối, chính sách dân tộc, chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Các tác giả khái quát những vấn đề lý luận chung về công tác dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc, chiến lược đại đoàn kết dân tộc với nội dung chủ yếu là đề cập đến tình hình dân tộc, tôn giáo nói chung trong giai đoạn hiện nay.
Những kết quả triển khai thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước trên phạm vi cả nước, đồng thời, các bài viết còn đề xuất một số giải pháp để làm tốt công tác tôn giáo, dân tộc trong thời gian tới: tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của Trung ương; thực hiện có hiệu quả chính sách và các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước; tăng cường quản lý Nhà nước về tôn giáo, tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo, chức sắc, tín đồ tôn giáo hoạt động; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng làm tốt công tác tuyên 18 z truyền chủ trương, chính sách của Đảng về dân tộc, tôn giáo góp phần giữ vững và đẩy mạnh xây dựng khối ĐĐKDT. Nhóm 3 Các c ng tr nh đề tài nghiên cứu về v n đề xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc các đ a phương ngoài tỉnh Sơn La Luận án tiến sĩ: Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số (1975 - 1995), của tác giả Ngô Xuân Trường, 2000, [135]. Đóng góp của tác giả trên là đã nhận diện đặc trưng Tây Nguyên với tính cách khu vực lịch sử - dân tộc học không thể lầm lẫn với khu vực nào khác trên đất nước Việt Nam, với địa bàn cư trú truyền thống của cư dân nói tiếng Môn - Khơme, trên cơ sở đó chỉ ra những bất cập của chính sách dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc khi chưa sát hợp với đặc điểm vùng và đặc điểm tộc người. Điều đó dẫn đến không ít hệ lụy ở Tây Nguyên từ sau năm 1975.
Đáng chú ý hơn, các vấn đề xử lý không thỏa đáng vấn đề đất ở và đất canh tác cho các tộc người bản địa, quản lý di cư tự do thiếu chặt chẽ, tình trạng phá rừng nghiêm trọng đe dọa đến không gian sinh tồn và sinh kế tộc người. Các hạn chế đó đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nên các cuộc bạo loạn chính trị, đỉnh điểm là năm 2001, mà đến nay tình hình Tây Nguyên đã yên nhưng vẫn chưa ổn. Tác giả còn rút ra một số kinh nghiệm từ cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” ở Tây Nguyên.