Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH 1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VỀ GIA ĐÌNH Vấn đề gia đình và sự phát triển gia đình trong xã hội đã được các nhà nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.Ăngnghen đã có công trình nghiên cứu về gia đình của nhà bác học tiến bộ người Mỹ là Luyxơ H.Moocgan trong tác phẩm “Xã hội cổ đại”. Trên cơ sở của tác phẩm đó, Ph.Ăngghen đã viết tác phẩm: “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”. Đây là tác phẩm nổi tiếng của Ph.Ăngghen khi phân tích một cách khoa học những giai đoạn phát triển lịch sử loài người.
Đặc biệt, Ph.Ăngghen đã trình bày lịch sử hình thành và phát triển của gia đình ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau và vạch rõ vai trò vị trí của nó trong đời sống xã hội. Trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, khi bàn về vấn đề gia đình, C.Mác đã chỉ ra rằng: “…hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở- đó là quan hệ chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”[36,tr.Ăngghen nhấn mạnh: “Những danh hiệu như cha, con, anh em và chị em không phải chỉ đơn thuần là những danh hiệu tôn kính, mà còn bao hàm những nghĩa vụ hoàn toàn rõ rệt và rất nghiêm túc của người ta đối với nhau và toàn bộ những nghĩa vụ đó hợp thành một bộ phận trọng yếu trong chế độ xã hội của những người dân đó”[38,tr 56]. Như vậy, gia đình là một trong những phạm trù xuất hiện sớm trong lịch sử loài người, gia đình chỉ mối quan hệ ràng buộc về nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình như cha, mẹ, con cái, anh chị, ông bà, con cháu… Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, C.Ăngghen lưu ý rằng, cần phải xem xét cả hai mặt: một mặt là sự tác 10 động của môi trường kinh tế - xã hội đến sự hình thành và phát triển của gia đình, đến cấu trúc, nội dung và quan hệ gia đình; mặt khác gia đình có vai trò quan trọng với ý nghĩa là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Chủ nghĩa Mác- Lênin khẳng định vai trò quyết định của các yếu tố kinh tế, xã hội đối với gia đình rằng: “Nhân tố quyết định trong lịch sử suy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp”.Ănghen đã chỉ rõ, bản thân sự sản xuất đó luôn có hai mặt: một mặt là sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt như thực phẩm, quần áo, nhà ở… và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những vật phẩm tiêu dùng cần thiết ấy; mặt khác là sản xuất ra bản thân con người.
Những trật tự xã hội mà trong đó, các cộng đồng người của thời đại lịch sử nhất định, của một quốc gia nhất định đang sinh sống “là do hai loại sản xuất qui định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình”[38,tr. Sự phát triển của sản xuất, của năng suất lao động và sự xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất đã phá vỡ chế độ cũ dựa trên những quan hệ thị tộc và thay vào đó là xã hội mới, mà trong đó “chế độ gia đình hoàn toàn bị quan hệ sở hữu chi phối và trong đó, từ nay trở đi, những mâu thuẫn giai cấp cùng với đấu tranh giai cấp, cấu thành nội dung của toàn bộ lịch sử thành văn từ trước đến nay, đều phát triển một cách tự do”[38,tr. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở mỗi một xã hội qui định cơ cấu, hình thức tổ chức và trình độ phát triển của gia đình. Ở mỗi một xã hội khác nhau, ở mỗi một giai đoạn lịch sử khác nhau thì nội dung, cơ cấu và quan hệ trong hôn nhân - gia đình cũng có sự biến đổi khác nhau.
Khi phân tích quá trình phát triển của lịch sử loài người, Ph.Ăngghen đã thấy được nguồn gốc hình thành hôn nhân, gia đình cũng như sự phát triển của hôn nhân và gia đình thích ứng với các giai đoạn của hình thái kinh tế - xã hội nhất định. 11 Trong thời kỳ nguyên thủy, trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, con người cùng nhau săn bắt, hái lượm, cùng nhau sinh sống trong các hang động; bởi vậy gia đình lúc này mang tính sơ khai : đó là gia đình tập thể - quần hôn.Ăngghen viết: “Chúng ta thấy hình thức gia đình nào là cổ nhất, sớm nhất đấy là hình thức quần hôn”[38,tr 64]. Hình thức quần hôn cho phép có quan hệ tính giao trong phạm vi gia đình giữa những người cùng thế hệ, giữa đàn ông, đàn bà, giữa cha và mẹ, giữa con trai và con gái, trẻ em sinh ra chỉ biết mẹ không biết cha. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ xã hội cộng đồng nguyên thủy hình thành nên gia đình huyết tộc.
Ở đó quan hệ hôn nhân và gia đình dựa trên cơ sở cùng chung dòng máu.Ăngghen giải thích: “Đó là giai đoạn đầu của gia đình. Ở đây các tập đoàn hôn nhân đều phân theo thế hệ: trong phạm vi gia đình, tất cả ông và bà đều là vợ chồng với nhau, các con họ, nghĩa là các người cha và các bà mẹ cũng đều là vợ chồng với nhau, rồi đến lượt con cái của những người này cũng hợp thành một nhóm vợ chồng chung thứ ba. Rồi con cái của những người con ấy tức là chắt của những người nói trên, lại hợp thành nhóm vợ chồng thứ tư”[38,tr. Trong hình thức gia đình này, chỉ giữa tổ tiên và con cháu, giữa cha mẹ và con cái là không có quyền và nghĩa vụ vợ chồng với nhau.
Anh em trai và chị em gái ruột, anh em và chị em họ bậc thứ nhất, bậc thứ hai và những bậc khác nữa đều là anh em, chị em với nhau, và chính vì thế mà họ đều là vợ chồng của nhau. Đến giai đoạn giữa của xã hội công xã nguyên thủy xuất hiện gia đình Punaluan, nghĩa là bạn thân, đây là hình thức gia đình tiến bộ hơn so với gia đình huyết tộc, trong đó quan hệ tính giao giữa anh em trai và chị em gái đã bị hủy bỏ. Đặc trưng của gia đình Punaluan là một số nhất định chị em gái cùng mẹ hoặc xa hơn đều là vợ chung của những người chồng chung (trừ anh em trai của họ ra); và “Những người chồng đó không gọi nhau bằng anh em nữa, mà gọi nhau là Punaluan, nghĩa là bạn thân, có thể 12 nói là cùng hội”[38,tr. Đó là hình thức cổ điển của một kết cấu gia đình theo kết cấu chung chồng, chung vợ với nhau trong phạm vi một gia đình nhất định, nhưng phải loại trừ những anh em trai của các người vợ, mặt khác cũng phải loại trừ tất cả những chị em gái của các người chồng nữa.
Xét về tính chất thì gia đình Punaluan vẫn theo chế độ quần hôn, những đứa trẻ sinh ra dòng dõi họ mẹ đóng vai trò quyết định, do ngưỡi ta không biết chắc chắn người cha đích thực của đứa bé, nhưng lại biết chắc chắn người mẹ của đứa trẻ và chế độ mẫu hệ đã ngự trị trong hình thức gia đình này. Đến cuối thời đại mông muội và chuyển sang thời đại dã man đã hình thành những gia đình cặp đôi. Quan hệ hôn nhân trong gia đình trong thời kỳ này thực hiện theo hình thức kết hôn từng cặp trong một thời gian dài hay ngắn và có thể bị cắt đứt dễ dàng do yêu cầu của bên này hay bên kia. Trong số vợ rất đông của mình, người đàn ông có một người vợ chính thức và trong số nhiều người chồng khác, anh ta là người chồng chính của người đàn bà ấy.
Con cái sinh ra vẫn chỉ biết mẹ của mình mà thôi. “Trong giai đoạn này, một người đàn ông sống chung với một người đàn bà song việc có nhiều vợ và việc không chung tình khi có dịp vẫn là quyền của người đàn ông”[38,tr.Ăngghen, đặc trưng của gia đình cặp đôi đó là: thứ nhất, thường thì người phụ nữ phải triệt để chung tình trong thời gian sống với người chồng và tội ngoại tình của họ sẽ bị trừng trị một cách tàn ác. Tuy thế, mối liên hệ vợ chồng vẫn có thể bị bên này hay bên kia cắt đứt một cách dễ dàng, con cái chỉ thuộc về mẹ. Thứ hai, trong tình trạng ngày càng mở rộng việc cấm không cho những người cùng dòng máu kết hôn với nhau như thế, qui luật đào thải tự nhiên tiếp tục phát huy tác dụng.
Từ khi có chế độ hôn nhân cặp đôi thì cũng là lúc bắt đầu có việc cướp và mua đàn bà - đó là những triệu chứng phổ biến, bởi vì, chẳng qua chúng chỉ đơn thuần là phương thức kiếm vợ. Đề cập đến cơ sở kinh tế của gia đình 13 cặp đôi, Ph.Ăngghen cho rằng gia đình cặp đôi, vì bản thân nó quá yếu ớt và quá không vững chắc để có thể nẩy sinh sự cần thiết có một kinh tế gia đình riêng, hoặc làm nẩy sinh một nguyện vọng có một kinh tế như thế, nên nó không thể hủy bỏ được nền kinh tế cộng sản nguyên thủy do thời trước để lại. Trong nền kinh tế cộng sản nguyên thủy, người phụ nữ giữ vai trò chủ yếu, là cơ sở kinh tế của những hình thái gia đình đầu tiên. Những người phụ nữ giữ vị trí thống trị trong nền kinh tế ấy thường thuộc về một thị tộc, trong khi đó những người đàn ông lại thuộc thị tộc khác, quan hệ thân tộc chỉ đựơc xác lập theo hệ mẹ.
Đó là sơ sở của việc hình thành chế độ mẫu hệ ở xã hội cộng sản nguyên thủy: con cái theo họ mẹ và kế thừa tài sản do mẹ chúng để lại. Như vậy, đặc trưng của gia đình quần hôn trong xã hội cộng đồng nguyên thủy là: tính giao tập thể, kinh tế cộng đồng nguyên thủy, chế độ mẫu hệ, bình đẳng và không có áp bức giữa các thành viên.Ăngghen cũng phân tích nguyên nhân khiến gia đình cặp đôi phát triển thành gia đình một vợ một chồng.Ăngghen, muốn gia đình cặp đôi phát triển thành gia đình một vợ một chồng vững chắc, cần có những nguyên nhân khác, ngoài những nguyên nhân đã tác động từ trứơc đến nay.