CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ VÀ LÝ THUYẾT MARKOWITZ 1.1 Tổng quan về Thị trường chứng khoán và rủi ro trên thị trường chứng khoán Định nghĩa Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chuyển nhượng các loại chứng khoán khác nhau. Thị trường chứng khoán có chức năng: Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng, tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán, đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp, tạo môi trường giúp chính phủ quản lý và thực hiện các chính sách vĩ mô. Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Trong thị trường chứng khoán các chủ thể tham gia có thể chia thành bốn nhóm như sau: Nhà phát hành, nhà đầu tư, các tổ chức kinh doanh chứng khoán và các tổ chức liên quan tới quản lý nhà nước về chứng khoán.
- Nhà phát hành Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán. Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thị trường chứng khoán. Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương. Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng.
phục vụ cho hoạt động của họ. - Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức. - Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán bao gồm: Công ty chứng khoán; Quỹ đầu tư chứng khoán; Các trung gian tài chính.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán: Cơ quan quản lý Nhà nước; Sở giao dịch chứng khoán; Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán; Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán; Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán; Các tổ chức tài trợ chứng khoán; Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm. Công cụ giao dịch Các công cụ giao dịch chủ yếu trên thị trường chứng khoán bao gồm: Trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán phái sinh Rủi ro trên thị trường chứng khoán Trong đầu tư chứng khoán rủi ro được quan niệm là hậu quả của sự thay đổi, biến động không lường trước được của giá trị tài sản và không chắn chắn về lợi tức mà nhà đầu tư có thể nhận được từ việc đầu tư của mình. Hay nói cách khác rủi ro trên thị trường chứng khoán là khả năng mà theo đó lợi tức thu về của nhà đầu tư thực sự khác so với lợi tức kỳ vọng ban đầu. Lý thuyết rủi ro hiện đại phân chia nhóm rủi ro trong đầu tư chứng khoán thành hai loại rủi ro chính là: Rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống.
- Rủi ro hệ thống là rủi ro xảy ra trên toàn bộ thị trường, xảy ra cùng lúc trên tất cả các chứng khoán. Rủi ro hệ thống gây ra bởi các yếu tố như: tình hình kinh tế chính trị, chính sách điều tiết nền kinh tế của Chính phủ trong từng thời kỳ…Loại rủi ro này tác động đến tất cả các loại chứng khoán, và không thể giảm được bằng việc đa dạng hoá danh mục đầu tư. - Rủi ro phi hệ thống (rủi ro cá thể): là rủi ro khi xảy ra chỉ ảnh hưởng đến một hoặc một số tài sản hay chứng khoán riêng lẻ. Đây chính là rủi ro có thể phân tán.
Loại rủi ro này gây ra bởi chính doanh nghiệp như: năng lực quản lý yếu kém, quyết định cơ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cấu tài sản và nguồn vốn không phù hợp, thị hiếu tiêu dùng, cạnh tranh, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính… Trong đầu tư tài chính, chỉ tiêu phương sai hoặc chỉ tiêu độ lệch chuẩn của phân phối tỷ suất lợi tức được sử dụng để đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán. Phương sai của thu nhập kỳ vọng của tài sản là tổng bình phương độ lệch của thu nhập kỳ vọng có nhân trọng số. Độ lệch chuẩn là căn bậc hai của phương sai.2 Tổng quan hoạt động của công ty Quản lý Quỹ 1.1 Khái niệm công ty QLQ Theo khái niệm về công ty quản lý quỹ đầu tư (Fund Management) tại thị trường chứng khoán Mỹ, công ty quản lý quỹ là công ty chuyên trách thực hiện việc quản lý các quỹ đầu tư. Các quỹ đầu tư được tổ chức dưới dạng một công ty, phát hành cổ phần.
Công ty đầu tư sử dụng nhà tư vấn đầu tư, hay người quản lý đầu tư để quyết định loại chứng khoán nào sẽ đưa vào danh mục đầu tư của quỹ. Người quản lý quỹ được toàn quyền quản lý danh mục đầu tư, mua bán chứng khoán phù hợp với các mục tiêu đầu tư của quỹ. Công ty quản lý quỹ được cấu trúc dưới hai dạng: quản lý quỹ đầu tư quỹ dạng đóng và quỹ dạng mở. Ở Việt Nam, theo thông tư 212/2012/TT-BTC ban hành ngày 05/12/2012 về hướng dẫn thành lập, tổ chức và hoạt động Công ty QLQ thì Công ty QLQ được định nghĩa là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán.2 Chức năng của công ty QLQ CTQLQ có các chức năng hoạt động và cung cấp các sản phẩm sau: Quản lý quỹ đầu tư (Asset management) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Huy động và quản lý vốn và tài sản - Tập trung đầu tư theo danh mục đầu tư - Quản lý đầu tư chuyên nghiệp Quản lý DMĐT - Thực hiện việc đầu tư cho khách hàng uỷ thác trên cơ sở hợp đồng quản lý đầu tư ký với khách hàng.
- Bảo đảm khách hàng có đủ tiền và tài sản để thực hiện giao dịch theo quy định của pháp luật. - Sử dụng vốn của khách hàng uỷ thác đầu tư thông qua các công cụ tài chính - Tối ưu hoá các nguồn vốn cho các nhà đầu tư Tư vấn đầu tư chứng khoán - Thông qua việc phân tích đánh giá về thị trường, phân tích giá trị tài chính, giá trị đầu tư và hỗ trợ cho các hoạt động quản lý đầu tư và các tư vấn như đã nêu trên CTQLQ được phép tư vấn cho khách hàng về chính sách đầu tư và chiến thuật giao dịch - Phát hành ra công chúng các ấn phẩm về đầu tư chứng khoán sau khi đã được cấp phép theo quy định của pháp luật về báo chí Như vậy thực chất hoạt động của CTQLQ là thực hiện chức năng về quản lý vốn, tài sản thông qua việc đầu tư theo danh mục đầu tư hiệu quả nhất nhằm gia tăng giá trị của quỹ đầu tư.3 Cơ chế hoạt động và giám sát của Công ty QLQ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Cơ chế hoạt động của Công ty QLQ Về cơ bản, mô hình hoạt động của CTQLQ trong thị trường tài chính được tổ chức nhằm tách bạch chức năng tư vấn quản lý và chức năng đại diện sở hữu. Về bản chất, tiền của nhà đầu tư uỷ thác cho Công ty QLQ đi đầu tư nên sở hữu khoản đầu tư này thuộc về nhà đầu tư. Công ty QLQ giới thiệu khoản đầu tư đến nhà đầu tư, chứ không trực tiếp đầu tư nên họ chỉ đại diện nhà đầu tư trong vấn đề sở hữu.
Do đó, việc góp vốn và sử dụng vốn phải thông qua một ngân hàng lưu ký và giám sát theo quy định của UBCK.1 Mô hình hoạt động công ty Quản lý Quỹ (4)Chuyển tiền uỷ thác vào (1)Giới thiệu cơ hội đầu tư TK lưu ký đã mở tại Ngân Khách hàng uỷ thác hàng (2)Ký hợp đồng QLDM (3)Mở tài khoản uỷ thác cho khách hàng tại Ngân hàng lưu ký Công ty Quản lý NH lưu ký và giám sát Quỹ (5)Thực hiện đầu tư (có xác nhận của nhà uỷ thác) – Lưu ký tài sản đầu tư Đối tượng nhận thanh toán (Đơn vị phát hành CP, chứng chỉ quỹ; trung tâm lưu ký CK) (6)Chuyển tiền theo mục đích của khoản đầu tư Quy trình đầu tư cho khách hàng uỷ thác của Công ty QLQ thể hiện trên hình 1.1 được cụ thể hoá như sau: (1): Các Công ty QLQ sẽ giới thiệu các cơ hội đầu tư này đến các nhà đầu tư, những người có tiền và đang tìm kiếm cơ hội đầu tư. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.(2) Xét thấy cơ hội đầu tư này có thể tham gia tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt các nhà đầu tư (sau này gọi chung là khách hàng uỷ thác) ký kết với công ty QLQ hợp đồng QLDM đầu tư. Theo đó, công ty QLQ sẽ có nhiệm vụ quản lý và đầu tư số tiền uỷ thác của khách hàng theo đúng hợp đồng và mục đích đầu tư của nhà uỷ thác. (3) Sau khi ký hợp đồng quản lý DMĐT, Công ty QLQ sẽ đại diện khách hàng mở TK lưu ký tại Ngân hàng lưu ký và giám sát theo chỉ định của khách hàng hoặc theo quy định của UBCK (4) Nhà đầu tư sẽ tiến hành đóng tiền vào TK đã mở ở ngân hàng lưu ký và giám sát.
Tài khoản này được ngân hàng quản lý và chỉ chuyển tiền theo đúng những nội dung trong hợp đồng QL DMĐT. Khoản đầu tư này sẽ được lưu ký tại ngân hàng lưu ký. (5) Công ty QLQ sẽ thay mặt nhà đầu tư để quản lý khoản đầu tư này. Công ty quản lý quỹ được xem là người đại diện nhóm cổ đông là nhà uỷ thác, họ sẽ nhận phí quản lý từ nhà uỷ thác và có nhiệm vụ cung cấp các thông tin liên quan đến khoản đầu tư cho nhà uỷ thác.
(6) Về phía ngân hàng thanh toán sẽ nhận tiền từ nhà đầu tư góp vốn và tiến hành chuyển tiền đầu tư theo đề nghị của Công ty QLQ. Nói cách khác, ngân hàng kiểm tra và tiến hành chi theo đúng nội dung trong bảng phân bổ tài sản đầu tư cho khách hàng của công ty QLQ. Khi những khoản tiền chuyển đi ngoài nội dung được quy định trong bảng phân bổ tài sản, ngân hàng phải liên đới chịu trách nhiệm cùng Công ty QLQ. Khoản đầu tư này sau khi chuyển đi, việc ghi nhận quyền sở hữu được tiến hành và được ngân hàng lưu ký quản lý.
Khi những khoản đầu tư này chuyển nhượng, căn cứ vào tính pháp lý của bên nhận chuyển nhượng và Công ty QLQ, ngân hàng lưu lý chấp thuận việc chuyển nhượng này.