MỞ ĐẦU Theo số liệu công bố của Tổ chức Khí tƣợng thế giới, mật độ CO2 trung bình toàn cầu thời gian gần đây luôn vƣợt ngƣỡng giới hạn an toàn. Đó là nguyên nhân của biến đổi khí hậu hiện nay. Báo cáo năm 2014 của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2014) chỉ ra rằng để nhiệt độ vào cuối thế kỷ tăng ở mức dƣới 2oC, tổng lƣợng phát thải phải đƣợc giới hạn ở mức dƣới 1000 GtC. Đứng trƣớc thực trạng đó, sau hơn 20 năm đàm phán kể từ khi Công ƣớc khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu đƣợc thông qua vào năm 1992, ngày 12 tháng 12 năm 2015, lần đầu tiên tại Paris, 200 quốc gia đã đồng thuận thông qua Thỏa thuận Paris.
Đây là Thỏa thuận mang tính lịch sử, vĩnh cửu ràng buộc về pháp lý cho tất cả các nƣớc về biến đổi khí hậu. Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính là trách nhiệm chung của toàn cầu. Trong giai đoạn 2008-2020, các nƣớc phát triển và các nƣớc có nền kinh tế chuyển đổi đã thực hiện các cam kết về giảm nhẹ phát thải KNK theo Nghị định thƣ Kyoto. Trong khi đó, các nƣớc đang phát triển thực hiện giảm nhẹ phát thải theo hình thức tự nguyện và thời gian gần đây thực hiện dƣới hình thức các hành động giảm nhẹ phát thải KNK phù hợp vời điều kiện quốc gia (NAMA).
Sau năm 2020, theo quy định tại Thỏa thuận Paris, tất cả các Bên tham gia công ƣớc khung của liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu đều phải thực hiện các mục tiêu giảm nhẹ phát thải theo đóng góp do quốc gia tự quyết (NDC). Trong bối cảnh BĐKH hiện nay , nhiều quốc gia trên thế giới đã lựa chọn giải pháp lồng ghép các nội dung liên quan đến giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH vào các chính sách phát triển. Theo đó, kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH đƣợc xây dựng trên quan điểm phát triển bền vững cũng đồng thời đem lại các lợi ích về ứng phó với BĐKH. Cùng với nhiều ngành kinh tế khác bị ảnh hƣởng thì vấn đề an ninh năng lƣợng trong giai đoạn tới đƣợc coi là vấn đề cấp thiết với nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, những hiện tƣợng biến đổi khí hậu diễn ra sẽ tác động mạnh đến cung cầu năng lƣợng, ảnh hƣởng trực tiếp đến các ngành than, sản xuất điện, dầu khí và 1 z đe dọa mất an ninh năng lƣợng của đất nƣớc.
Tiềm năng sản xuất điện mặt trời nối lƣới có thể làm giảm phát thải CO2, mỗi GW điện mặt trời phát triển mỗi năm làm giảm 1,39 triệu tấn CO2 góp phần làm giảm cƣờng độ phát thải KNK (Bộ Công Thƣơng và GIZ,2018). Hiện nay, Việt Nam đang và sắp triển khai hàng trăm dự án điện mặt trời, do đó cần thiết có một công cụ để đánh giá tổng quan nhất cho các cơ quan quản lý để kịp thời đƣa ra các khuyến nghị, điều chỉnh phù hợp. 2 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về giảm nhẹ khí nhà kính (KNK) 1.Nội hàm liên quan đến hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK - Hoạt động “giảm nhẹ” : Theo Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) là hoạt động của con ngƣời để giảm các nguồn phát thải KNK hoặc tăng cƣờng các bể hấp thụ KNK.
- Khí nhà kính: Là các chất khí trong khí quyển hấp thụ và phát xạ trở lại bức xạ hồng ngoại phát ra từ mặt đất. Các chất khí này vừa do các quá trình tự nhiên lẫn con ngƣời sinh ra. Khí nhà kính chủ yếu là hơi nƣớc, điôxit cacbon, ôxit nitơ, mêtan, ôzôn đối lƣu và các CFC. - Bộ chỉ tiêu: Hiện nay có rất nhiều tài liệu định nghĩa về chỉ số và chỉ tiêu, theo nghiên cứu về Bộ tiêu chí và cơ sở dữ liệu giám sát phát triển bền vững ở Việt Nam (2006) của Bộ Kê hoạch và Đầu tƣ, bộ chỉ tiêu là những chỉ tiêu đƣợc nhóm thành một tập hợp liên quan tới nhau theo nhiều chiều.
Năng lƣợng mặt trời: Năng lƣợng mặt trời là năng lƣợng của dòng bức xạ điện từ xuất phát từ mặt trời, cộng với một phần nhỏ năng lƣợng của các hạt nguyên tử khác phóng ra từ các ngôi sao. Dòng năng lƣợng này sẽ tiếp tục phát ra cho đến khi phản ứng hạt nhân trên mặt trời hết nhiên liệu, vào khoảng 5 tỉ năm nữa. Con ngƣời đã biết sử dụng nguồn năng lƣợng này từ rất sớm, nhƣng ứng dụng năng lƣợng mặt trời vào các công nghệ sản xuất và trên quy mô rộng thì mới chỉ thực sự vào thế kỷ 18 và cũng chủ yếu ở những nƣớc nhiều năng lƣợng mặt trời, nhƣng vùng sa mạc. Từ sau cuộc khủng hoảng năng lƣợng thế giới năm 1968 và 1973, năng lƣợng mặt trời càng đƣợc đặc biệt quan tâm.
Các nƣớc công nghiệp phát triển đã đi tiên phong trong việc nghiên cứu ứng dụng năng lƣợng mặt trời. Các ứng dụng năng lƣợng mặt trời phổ biến hiện nay là điện mặt trời và nhiệt mặt trời. Điện mặt trời: Điện mặt trời là lĩnh vực biến đổi năng lƣợng mặt trời thành năng lƣợng điện. Hiện nay có hai phƣơng thức sản xuất điện từ năng lƣợng mặt trời.
3 z Chuyển đổi trực tiếp ánh sang mặt trời thành điện năng bằng cách sử dụng các tấm pin mặt trời (Photovoltaic (PV)). Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng nhiều trong việc sản xuất điện quy mô lớn nhỏ khác nhau, cung cấp năng lƣợng cho tàu vũ trụ hoặc chiếu sáng công cộng …vv. Chuyển đổi gián tiếp bằng cách tạo nhiệt độ cao bằng một hệ thống gƣơng phản chiếu và hội tụ ánh sáng để gia nhiệt cho môi chất truyền động cho máy phát điện. Phƣơng pháp này ứng dụng để sản xuất quy mô lớn.
Tấm pin năng lƣợng mặt trời ( PV ) : Còn có tên gọi khác là tấm thu điện năng lƣợng mặt trời. Đây là công cụ để nhận ánh sáng mặt trời và chuyển hóa thành điện năng. Tấm pin năng lƣợng mặt trời là những tấm mỏng với diện tích bề mặt lớn. Tấm này đƣợc cấu tạo từ các tế bào quang điện.
Mỗi tấm bao gồm một số lƣợng lớn pin năng lƣợng mặt trời. - Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính - Năng lƣợng mặt trời - Các nguồn phát thải khí nhà kính (sources of greenhouse gages): Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 5 về BĐKH của Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC, 2014), nguyên nhân chính gây BĐKH là do sự gia tăng phát thải KNK từ các hoạt động kinh tế và tình trạng khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính nhƣ sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác…từ các hoạt động của con ngƣời. Căn cứ theo nguồn gốc phát sinh, mức độ phát thải tuyệt đối và xu hƣớng phát thải cũng nhƣ mức độ ảnh hƣởng đến tổng tiềm năng phát thải KNK của các quốc gia, các nguồn phát thải đƣợc chia thành 4 nhóm chính: Năng lƣợng: Là một trong những nguồn phát thải KNK lớn nhất hiện nay. Phát thải trong lĩnh vực năng lƣợng chia thành 3 nhóm: (1) Phát thải do đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (trong các ngành công nghiệp năng lƣợng, hoạt động giao thông vận tải.); (2) Phát thải tức thời (tức là lƣợng khí, hơi thải ra từ các thiết bị nén do rò rỉ, không mong muốn hoặc không thƣờng xuyên từ quá trình khai thác, chế biến, vận chuyển nhiên liệu.) và (3) hoạt động thu hồi và lƣu trữ các-bon.
4 z Trong đó, phát thải từ đốt nhiên liệu hóa thạch đóng góp đến 70% tổng lƣợng phát thải, tiêu biểu là từ các nhà máy sản xuất điện từ nguồn nhiên liệu hóa thạch và nhà máy lọc dầu. Quy trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm (Industrial process and product use - IPPU): Phát thải từ lĩnh vực IPPU phát sinh trong các quy trình xử lý công nghiệp; việc sử dụng KNK trong các sản phẩm và sử dụng các-bon trong các nhiên liệu hóa thạch không nhằm mục đích sản xuất năng lƣợng. Trong đó, nguồn phát thải chính là các quy trình công nghiệp xử lý nguyên liệu về mặt hóa học hoặc vật lý. Trong suốt các quy trình này, nhiều loại KNK đƣợc tạo ra bao gồm: CO 2, CH4, N2O, HFCs và PFCs.
Nông nghiệp: CH4 và N2O là các KNK chính phát sinh từ các hoạt động nông nghiệp nhƣ chăn nuôi, trồng lúa nƣớc, canh tác đất nông nghiệp, hoạt động đốt (các phụ phẩm) trong sản xuất nông nghiệp. Sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF): Quá trình sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất cũng là một trong những nguồn gốc phát sinh khí CO2. Bên cạnh đó, sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp cũng là nơi hấp thụ CO2. Chất thải: Các loại KNK có thể phát sinh trong lĩnh vực chất thải bao gồm: CO2, CH4 và N2O.
Các nguồn phát sinh KNK chính trong lĩnh vực chất thải đƣợc ghi nhận là: chôn lấp chất thải rắn; xử lý sinh học chất thải rắn; thiêu hủy và đốt mở chất thải; xử lý và xả nƣớc thải. Thông thƣờng, CH4 phát thải từ các bãi chôn lấp chất thải rắn (Solid Waste Dumping Site - SWDS) chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng lƣợng KNK của lĩnh vực này. CH4 trong xả và xử lý nƣớc thải cũng đóng một vai trò tƣơng đối quan trọng. Bên cạnh đó, xả thải, xử lý chất thải rắn và nƣớc thải cũng đồng thời tạo ra các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi không metan (NMVOCs), NOx, CO và NH3.
NOx chủ yếu sinh ra khi đốt chất thải, còn NH3 sinh ra trong quá trình compost. NOx và NH3 có thể gián tiếp tạo ra N2O. Tuy nhiên, lƣợng N2O này chiếm một tỷ lệ nhỏ, không đáng kể. 5 z - Bể hấp thụ khí nhà kính (sinks of greenhouse gages): Bao gồm các hệ thống tự nhiên hoặc nhân tạo hấp thụ và lƣu trữ khí nhà kính từ khí quyển.
Sử dụng đất và lâm nghiệp là các nguồn hấp thụ và lƣu trữ các bon chính. Tại Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng đang triển khai xây dựng Nghị định quy định lộ trình và phƣơng thức giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, trong đó có đề cập đến “Dự án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cấp cơ sở” là các dự án hoạt động kinh tế - xã hội có phát thải khí nhà kính thuộc các lĩnh vực phải xây dựng đề án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đăng ký nhằm mục đích tham gia giảm nhẹ phát thải khí nhà kính theo quy định.