CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRUONG HOP SINH CON BANG KY THUAT HO TRO SINH SAN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cha, mẹ, con Khái niệm cha, mẹ, con được nghiên cứu dưới hai góc độ: góc độ sinh học-xã hội và góc độ pháp lý: Dưới góc độ sinh học — xã hội, cha, mẹ, con là những khái niệm luôn tồn tại cùng nhau, có mối liên quan không thẻ tách rời. Mối quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ luôn gan liền với quá trình sinh đẻ, từ việc thụ thai, mang thai và sinh con.
Về nguyên tắc, cha đẻ, mẹ đẻ phải đảm bảo hai yếu tố: thứ nhất, có quan hệ huyết thống trực hệ với người con; thứ hai, phải mang huyết thống, mã gen của cha mẹ; thứ ba, mẹ trực tiếp sinh ra. Tuy nhiên, trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học thì yếu tô thứ nhất (mang huyết thống) có thé sẽ không được đảm bảo nếu việc sinh con theo phương pháp khoa hoc có sự tham gia của người thứ ba (người cho tinh trùng, cho trứng, cho phôi). Vì vậy, dưới góc độ sinh học — xã hội, cha, mẹ đẻ, trong quan hệ với con, là người trực tiếp sinh ra con, có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống với người con; Con đẻ, trong quan hệ với cha mẹ, là người được cha mẹ trực tiếp sinh ra, có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống với cha, mẹ. Dưới góc độ pháp lý, tư cách là cha, mẹ, là con chỉ được chính thức thừa nhận thông qua những thủ tục pháp lý nhất định.
Vậy, cha, mẹ đẻ trong mối quan hệ với con, là người trực tiếp sinh ra người con, có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Con đẻ, trong mối quan hệ với cha mẹ, là người được cha, mẹ sinh ra, có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Dưới góc độ pháp ly, khái niệm “con” còn được nghiên cứu với tư cách là con trong giá thú, con ngoài giá thú, con chung, con riêng. Từ đó, là cơ sở cho việc xác định cha, me, con’.
Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Đề hiểu rõ hơn về van dé này, trước hết cần xem xét một số khái niệm được quy định tại Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP Quy định về sinh con băng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: -Noãn là giao tử của nữ. -Tinh trùng là giao tử của nam. -Phôi là sản phẩm của quá trình kết hợp giữa noãn và tinh trùng. -Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi.
Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có thể được xem xét dưới hai góc độ: -Dưới góc độ y học: Theo định nghĩa từ Đạo luật về Chứng chỉ và Mức thành công của các phòng Y tế Hỗ trợ sinh sản (Hoa Kỳ), từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (tiếng Anh: Assisted Reproductive Technology A.T) bao gồm tất cả các phương pháp chữa trị chứng vô sinh trong đó có cả trứng lẫn tinh trùng đều được sử dụng”. Bên cạnh đó, còn có một số định nghĩa khác về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như: Nguyễn Thị Lan (2010), Luận án tiến sĩ “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt Nam”, tr.gov/ + Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là những kỹ thuật kết hợp giữa y học và sinh học, can thiệp vào các bước trong sinh lý sinh sản tự nhiên nhăm giúp làm tăng khả năng sinh sản”. + Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là các phương pháp giúp đỡ và điều trị cho các cap vợ chồng hiếm muộn, vô sinh băng các thủ thuật y học với sự can thiệp của cơ sở y tế có thâm quyên. Trong đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP “Vô sinh là tình trạng vợ chong sau một năm chung sống có quan hệ tình duc trung bình 2-3 lân/tuân, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ van không có thai `.
Tuy nhiên, hiện nay, các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản còn được sử dụng để giúp những người phụ nữ sống độc thân, mong muốn có con mà không thuộc trường hợp hiém muộn hay vô sinh. Vì thé, các định nghĩa trên vẫn còn tồn tại thiếu sót. Nói tóm lại, sinh con bang kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con thông qua biện pháp áp dụng những kỹ thuật y sinh học bởi các cơ quan y tế có thâm quyền dé giúp các cặp vợ chồng hiếm muộn — vô sinh hoặc những người phụ nữ song độc than thực hiện được mong muốn có con của mình. -Dưới góc độ pháp ly: Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được quy định tại Khoản 21 Điều 3 Luật HN&GD năm 2014: “Snh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tình nhân tạo hoặc thụ tỉnh trong ống nghiệm `.
Có thé thay, thông qua việc sử dụng phương pháp liệt kê, quy định này chưa làm rõ được thê nào là “sinh con băng kỹ thuật hô trợ sinh san” cũng 3 Drtuong.com/2009/1 1/21/art/ như không thê hiện được đặc trưng của phương pháp này, đồng thời có thé dẫn đến những thiếu sót trong tương lai. Thực chất, khi nói đến sinh con theo phương pháp khoa học thì cũng được hiểu là sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Vì thế, khái niệm trên về cơ bản đã làm rõ được thế nào là sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Tóm lại, dưới góc độ pháp lý, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có thể được định nghĩa như sau: Sinh con băng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con có sự can thiệp của các kỹ thuật y sinh học công nghệ cao trong trường hợp quá trình mang thai tự nhiên của con người bị hạn chế bởi những nguyên nhân khác nhau, được tiễn hành trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các chủ thé.
Khái niệm xác định cha, me, con Khái niệm xác định cha, me cho con theo từ điển Luật hoc được hiểu là: “Định rõ một người là cha hoặc một người là mẹ cho con trên cơ sở các quy định cua pháp luật”, ngoài ra còn có khái niệm xác định con cho cha, me là “Định rõ một người là con cua cha hoặc của mẹ trên cơ sở các quy định của pháp luật. Tuy vậy, mỗi quan hệ giữa cha, mẹ và con là mối quan hệ hai chiều và không thể tách rời, xác định cha, mẹ cho con cũng chính là xác định con cho cha, me sau khi xác định được ai là cha, mẹ hoặc ai là con cũng sé phát sinh những quyền và nghĩa vụ theo pháp luật như nhau. Suy cho cùng xác định cha, me, con là việc xác nhận mối quan hệ huyết thông giữa cha, mẹ, con. Quan hệ huyết thống không chi là cơ sở để xác định cha, mẹ, con ma còn là cơ sở xác định nguồn gốc, dòng họ, gia pha với những giá trị văn hoa tinh than, đạo đức và truyền thống của dòng họ.
10 Chính vì vậy, việc tách riêng thành hai khái niệm là không cần thiết mà chỉ cần nêu khái niệm chung về việc xác định cha, mẹ, con mà thôi. Sau đây là những khái niệm khái quát về vấn đề này: - Trong từ điển Tiếng Việt: “Xác định ” theo từ điển Tiếng Việt là “qua nghiên cứu, tìm tòi, biết được rõ ràng, chính xác ”, vậy xác định cha, mẹ cho con là việc nghiên cứu, tìm tòi dé tim ra nguồn gốc của một con người một cách rõ rang và chính xác. - - Dưới góc độ sinh học — xã hội: Xác định cha, mẹ, con là việc nghiên cứu, tìm kiếm, nhận diện mối quan hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ”. - Dưới góc độ pháp lý: + Với tư cách là một sự kiện pháp lý: Xác định cha, mẹ, con là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con về mặt huyết thống”.
Sự kiện sinh đẻ là hành vi sinh con của người phụ nữ và hành vi này phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế phát triển tự nhiên của bào thai, nhiều khi nằm ngoài sự kiểm soát của người mẹ, vì vậy, sự kiện sinh đẻ là sự biến pháp lý tương đối. Tuy nhiên, sự kiện sinh đẻ chỉ là một trong những sự kiện dé xác định tư cách cha, mẹ, con. Sự kiện sinh đẻ phải đi liền với một loạt các hành vi pháp lý khác mới đủ cơ sở để xác định quan hệ pháp luật giữa cha mẹ con hành vi đăng ký khai sinh, một quyết định hay một bản án có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thầm quyền công nhận hoặc xác định tư cách cha, mẹ, con. + Với tư cách là một quan hệ pháp luật: Xác định cha, mẹ, con là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tìm kiếm, nhận diện tư cách cha, mẹ, con về mặt huyết thống của các chủ thể được các quy phạm pháp luật điều chỉnh”.
Căn cứ vào tính chất của quan hệ pháp luật, việc xác định cha, * Nguyễn Thị Lan (2010), Luận án tiến sĩ “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt Nam”, tr. Ÿ Nguyễn Thị Lan (2010), Luận án tiến sĩ “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt Nam”, tr. 6 Nguyễn Thị Lan (2008), Luận án tiến sĩ “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt Nam”, tr. 11 me, con bao gom quan hé vat chat va quan hệ hình thức; căn cứ vào ý chí cua các chủ thể, việc xác định cha, mẹ, con bao gồm quan hệ tự nguyện nhận cha, mẹ, con được tiễn hành tại cơ quan hành chính nhà nước (UBND) và quan hệ tranh chấp xác định cha, me, con được tiến hành tại co quan tư pháp (TAND); căn cứ vào hôn nhân của cha, mẹ việc xác định cha, mẹ, con bao gồm quan hệ xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp và quan hệ xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp.
Ở mỗi cách phân loại, mối quan hệ về xác định cha, mẹ, con đều có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định. Mỗi chủ thể, tùy theo tư cách của mình trong mối quan hệ, có quyền và nghĩa vụ nhất định dé nhận diện đúng tư cách cha, mẹ, con.