CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON ĐƯỢC SINH RA BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm về xác định cha, mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 1. Khái niệm xác định cha, mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Vô sinh là một tình trạng khá phổ biến hiện nay, con người không thể sinh đẻ một cách tự nhiên gây nên nhiều khó khăn, giảm đi hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, xã hội hiện đại, y học tại Việt Nam cũng đang phát triển rất tích cực vì vậy, thay vì không thể sinh đẻ tự nhiên hay một người phụ nữ độc thân không muốn có chồng nhưng lại muốn có con để nuôi dưỡng chăm sóc, mong muốn được thực hiện thiên chức làm mẹ thì ở hiện tại sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được coi là một phương pháp khá phổ biến đối với các gia đình để lựa chọn.
Vậy sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là gì và được quy định như thế nào theo pháp luật tại Việt Nam? Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được quy định tại Khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, theo đó: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”. Hiện nay có hai phương pháp chính được áp dụng đó là: thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm. Thụ tinh nhân tạo hay thụ tinh trong ống nghiệm đều nhờ sự can thiệp của kỹ thuật y học để giúp người phụ nữ mang thai. Ngoài các biện pháp hỗ trợ sinh sản nêu trên còn có biện pháp khác như “Mang thai hộ” cũng sử dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Vậy “ mang thai hộ’ có được coi là biện pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hay không? “Mang thai hộ” cần phải có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản1. Có thể thấy, trong trường hợp khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ vẫn không thể có thể có thai được vì vậy mà phải áp dụng biện pháp mang thai hộ. “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” Là việc một người phụ nữ tự nguyện không vì mục đích thương mại giúp mang thai hộ cặp vợ chồng mà người vợ 1 Điểm a khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014. 7 không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ thai trong ống nghiệm, sau đó được cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai, để người này mang thai và sinh con2. Mặc dù có áp dụng kỹ thuật hỗ trợ trong quá trình mang thai hộ để sinh con nhưng vẫn không được xếp vào các phương pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Bởi, mang thai hộ hay thụ tinh trong ống nghiệm đều được thực hiện bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và phải do người phụ nữ sử dụng biện pháp hỗ trợ đó tự mình sinh ra con. Còn đối với trường hợp mang thai hộ thì ban đầu có sử dụng noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ thai trong ống nghiệm nhưng việc đẻ ra đứa trẻ là do người phụ nữ khác được nhờ để thực hiện.
Việc sinh con bằng “mang thai hộ” đã được quy định riêng trong luật khác với sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cũng như việc xác định cha, mẹ cho con trong từng trường hợp. Trường hợp sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo: Ngày nay, thụ tinh nhân tạo đang là một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm nhiều nhất xoay quanh lĩnh vực sức khỏe sinh sản. Thụ tinh nhân tạo được biết đến là một phương pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả được áp dụng phổ biến trong điều trị vô sinh hiếm muộn nhằm mang đến cơ hội làm cha, làm mẹ cho nhiều cặp vợ chồng. Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật để tạo điều kiện cho quá trình thụ thai được diễn ra thuận lợi nhất tại các cơ sở y tế chuyên khoa.
Thụ tinh nhân tạo viết tắt của intrauterine insemination (IUI)3 là thụ tinh bằng phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung - được tiến hành bằng cách chọn lọc tinh trùng khỏe nhất của người chồng, sau đó bơm vào buồng tử cung của người vợ ở thời điểm rụng trứng. Kết quả là cho tinh trùng bơi vào ống dẫn trứng và thụ tinh với trứng của người vợ, từ đó dẫn đến thụ thai như bình thường. Tùy thuộc vào nguyên nhân dẫn đến vô sinh, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo có thể được phối hợp với chu kỳ kinh nguyệt của người vợ hoặc sử dụng kết hợp với các loại thuốc hỗ trợ sinh sản. 2 khoản 22 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Quy trình thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) Thông tư 12/2012/TT-BYT Quy trình kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm 8 Đối tượng áp dụng biện pháp thụ tinh nhân tạo: Khả năng thụ thai của mỗi cặp vợ chồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, do đó, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo thường được chỉ định cho những trường hợp như sau: Mẹ đơn thân. Đối với những phụ nữ không lập gia đình nhưng vẫn muốn có con, do đó họ cần sử dụng tinh trùng của người hiến tặng để mang thai, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo sẽ được chỉ định và hỗ trợ cho các bà mẹ đơn thân này. Mẫu tinh trùng của người hiến tặng được bảo quản đông lạnh và được lấy từ các phòng thí nghiệm đạt chứng nhận kiểm định, sau đó làm rã đông trước khi làm thủ thuật thụ tinh nhân tạo. Vô sinh không rõ nguyên nhân.
Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo thường được thực hiện như là biện pháp điều trị đầu tiên cho các cặp vợ chồng vô sinh không rõ nguyên nhân và kỹ thuật này cần kết hợp với các thuốc kích thích gây rụng trứng. Vô sinh liên quan đến lạc nội mạc tử cung. Đối với trường hợp vô sinh liên quan đến lạc nội mạc tử cung, người vợ cần sử dụng thuốc để hỗ trợ lấy được trứng chất lượng tốt cùng với thực hiện kỹ thuật thụ tinh nhân tạo thường là phương pháp điều trị đầu tiên. Nam giới vô sinh.
Phân tích tinh dịch của người chống là một trong những bước đầu tiên trong đánh giá y tế về tình trạng vô sinh của các cặp vợ chồng hiếm muộn, xét nghiệm này cho thấy nồng độ tinh trùng dưới mức trung bình, khả năng di chuyển của tinh trùng yếu hoặc bất thường về kích thước và hình dạng của tinh trùng. Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo có thể khắc phục một số vấn đề trên do đó kỹ thuật viên sẽ tách tinh trùng có tính di động cao ra khỏi mẫu tinh trùng của người chồng có chất lượng tốt để sẵn sàng cho thụ tinh nhân tạo. Đây là một trong những biện pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả cao hiện nay và trở thành lựa chọn của rất nhiều cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn. Trường hợp sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm: Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì: “Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi”.
9 Theo y học Thụ tinh ống nghiệm (In vitro fertilization – IVF)4 là kỹ thuật điều trị vô sinh – hiếm muộn phổ biến nhất hiện nay, trong đó tinh trùng của người chồng và trứng của người vợ sẽ được thụ tinh trong phòng labo để tạo thành phôi. Sau khoảng thời gian nuôi cấy phôi bên ngoài (thông thường khoảng 2 – 5 ngày), phôi sẽ được đưa trở lại buồng tử cung của người vợ để phát triển thành thai nhi. Hay nói cách khác, phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp mà trứng và tinh trùng được thụ tinh bên ngoài cổ tử cung của người phụ nữ. Đối tượng cần áp dụng biện pháp thụ tinh ống nghiệm: Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) được biết đến là phương pháp điều trị hiệu quả cho những trường hợp người vợ bị tắc nghẽn ống dẫn trứng.
Bên cạnh đó, phương pháp này còn được áp dụng điều trị cho các cặp vợ chồng hiếm muộn không thể có thai bằng các phương pháp hỗ trợ sinh sản thông thường, hoặc những cặp vợ chồng lớn tuổi, kèm theo các bệnh lý: lạc nội mạc tử cung, rối loạn phóng noãn, bất thường ở tinh trùng và các yếu tố miễn dịch, hoặc vô sinh chưa rõ nguyên nhân… Tóm lại, những đối tượng có thể xem xét đến phương pháp IVF gồm: Vô sinh do rối loạn phóng noãn, tắc hoặc tổn thương vòi trứng, đã cắt bỏ vòi trứng… Vô sinh do các bệnh lý tại buồng tử cung như lạc nội mạc trong cơ tử cung, u xơ tử cung. Vô sinh do tinh trùng yếu, tinh trùng ít hoặc xuất tinh ngược, không có tinh trùng trong tinh dịch… Cặp vợ chồng lớn tuổi, dự trữ buồng trứng ở người vợ suy giảm. Quy trình thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) Thông tư 57/2015/TT-BYT sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. 10 Áp dụng phương pháp bơm tinh trùng nhiều lần nhưng thất bại.
Vô sinh – hiếm muộn chưa rõ nguyên nhân. Các cặp vợ chồng mang gen bệnh như Thalassemia, Hemophilia… cần sàng lọc tiền làm tổ để giảm thiểu nguy cơ sinh con mắc bệnh. Đây cũng là biện pháp được nhiều cặp vợ chồng vô sinh, phụ nữ độc thân tìm đến và mang lại hiệu quả tương đối cao. Ngày nay, với công nghệ tiên tiến, tỷ lệ mang thai của người được thụ tinh trong ống nghiệm đã được nâng lên đáng kể so với trước đây.
Điểm khác biệt giữa hai kỹ thuật này chính là, đối với bơm tinh trùng vào buồng tử cung, quá trình thụ tinh vẫn xảy ra trong cơ thể của người phụ nữ, trong khi với thụ tinh ống nghiệm, quá trình thụ tinh xảy ra ngoài cơ thể người phụ nữ, vì vậy kỹ thuật IVF yêu cầu nhiều bước điều trị hơn, từ kích thích buồng trứng, chọc hút trứng, đến thụ tinh trong phòng thí nghiệm và chuyển phôi ngược lại vào buồng tử cung người phụ nữ.