Chương 1, giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm: vấn đề nghiên cứu (bối cảnh thực tiễn và lý thuyết) để nhận dạng cơ hội nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, và dự kiến những đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn của luận án. Chương 2, trình bày cơ sở lý thuyết và khung phân tích về mối liên hệ giữa vốn xã hội và các hoạt động của doanh nghiệp BĐS. Trước hết là lược khảo các lý thuyết để xây dựng định nghĩa vốn xã hội sử dụng cho luận án. Kế đến là lược khảo các lý thuyết về các hoạt động trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp nhằm xác định cấu trúc của vốn xã hội và các hoạt động của doanh nghiệp BĐS.
Từ đó chỉ ra khe hổng nghiên cứu và khung phân tích về mối liên hệ giữa vốn xã hội và các hoạt động của doanh nghiệp BĐS. Chương 3, trình bày quy trình và phương pháp thực hiện nghiên cứu. Chương này sẽ nêu ra quy trình thực nghiên cứu gồm hai giai đoạn: Giai đoạn một là xây dựng thang đo và mô hình nghiên cứu; Giai đoạn 2 là kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu cho trường hợp điển hình tại thành phố Hồ Chí Minh. Giai đoạn thứ nhất là từ nghiên cứu định tính lần thứ nhất để xây dựng thang đo sơ bộ, kế đến là đánh giá sơ bộ thang đo để hình thành thang đo chính thức, nghiên cứu định tính lần thứ hai để hình thành các giả thuyết và mô hình nghiên cứu.
Giai đoạn thứ hai là trình bày các công cụ sử dụng cho nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định thang đo như hệ số tin cậy (Cronbach’s alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA); kiểm định các giả thuyết nghiên cứu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày các phương pháp chọn mẫu, tiêu chuẩn xác định cỡ mẫu trong từng giai đoạn nghiên cứu. Chương 4, xây dựng thang đo và mô hình nghiên cứu cho trường hợp ngành BĐS Việt Nam. Trước hết là xây dựng thang đo bằng phương pháp liện hệ lý thuyết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 và kết hợp với nghiên cứu định tính lần thứ nhất.
Các thang đo được đánh giá sơ bộ bằng nghiên cứu định lượng với công cụ sử dụng là Cronbach’s alpha và EFA trên 150 quan sát. Sau cùng là nghiên cứu định tính lần thứ hai để hình thành các giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 5, trình bày kết quả kiểm định thang đo và các giả thuyết nghiên cứu đã xây dựng ở chương 4 cho trường hợp điển hình là các doanh nghiệp BĐS tại thành phố Hồ Chí Minh. Chương này xác định đối tượng và cỡ mẫu dùng để kiểm định thang đo.
Kết quả kiểm định thang đo bằng các công cụ Cronbach’s alpha, EFA, CFA để đánh mức độ phù hợp của mô hình với dữ liệu, tính đơn nguyên, giá trị phân biệt, độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích. Sau đó là kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và phân tích đóng góp của vốn xã hội vào các hoạt động của doanh nghiệp bằng phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Qua đó đánh giá mức độ phù hợp của mô hình lý thuyết được xây dựng và xác định được các căn cứ để gợi ý những chính sách ở chương 6. Chương 6, tóm tắt kết quả nghiên cứu về đóng góp của vốn xã hội vào các doanh nghiệp BĐS.
Qua đó gợi ý một số chính sách nhằm góp phần giúp doanh nghiệp nâng cao kết quả các hoạt động thông qua sử dụng vốn xã hội của doanh nghiệp; đồng thời gợi ý các chính sách vĩ mô nhằm hỗ trợ doanh nghiệp BĐS phát triển các hình thức liên kết xã hội tích cực và hạn chế các hình thức liên kết xã hội tiêu cực trong thị trường BĐS. Cuối cùng là trình bày những đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn, cũng như những hạn chế của luận án và định hướng nghiên cứu tiếp theo. Phần cuối cùng của luận án là danh mục các công trình của tác giả có liên quan đến luận án, danh mục các tài liệu tham khảo và các phụ lục. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA VỐN XÃ HỘI VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN Chương 2 sẽ lược khảo các quan điểm tiêu biểu về vốn xã hội để lựa chọn các yếu tố cấu thành vốn xã hội sử dụng trong luận án, đồng thời kết hợp với các chủ thể trong mạng lưới quan hệ của doanh nghiệp để xây dựng cấu trúc vốn xã hội cho doanh nghiệp.
Kế đến là xem xét các lý thuyết về quá trình hoạt động của doanh nghiệp BĐS để chỉ ra các nhóm hoạt động của doanh nghiệp BĐS. Sau cùng là tích hợp hai khía cạnh trên để phát triển khung phân tích về mối liên hệ giữa vốn xã hội và các hoạt động của doanh nghiệp BĐS.1 TỔNG KẾT LÝ THUYẾT VỀ VỐN XÃ HỘI 2.1 Quá trình hình thành khái niệm vốn xã hội ° Giai đoạn từ năm 2000 trở về trước: Woolcock & Narayan (2000, trang 229) cho rằng: “Cụm từ vốn xã hội được sử dụng lần đầu tiên bởi Hanifan (1916), sau đó chúng biến mất đi trong vài thập kỷ và tái hiện trở lại vào những năm của thập kỷ năm mươi bởi các nhà xã hội học Seeley, Sim và Loosely (1956), những năm của thập kỷ sáu mươi bởi nghiên cứu của Homans (1961), Jacobs (1961), và những năm của thập kỷ bảy mươi bởi nhà kinh tế Loury (1977). Không ai trong số các tác giả đó trích dẫn các nghiên cứu trước đó, nhưng tất cả đều đề cập đến đóng góp quan trọng của các mối liên kết, ràng buộc trong cộng đồng. Các nghiên cứu của Coleman (1988) về giáo dục và Putnam (1993) về sự tham gia của cộng đồng và thể chế đã cung cấp nguồn cảm hứng cho nghiên cứu xung quanh các lĩnh vực: cộng đồng; giáo dục; quản trị; y tế và môi trường; và kinh tế phát triển.” Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu gần đây phát triển khái niệm vốn xã hội dựa trên các khái niệm được đề xuất chủ yếu bởi các nghiên cứu của Bourdieu (1986), LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Theo quan điểm Bourdieu (1986), vốn xã hội là các nguồn lực tồn tại trong các mối liên hệ giữa các cá nhân hoặc tổ chức (gọi chung là chủ thể) trong bối cảnh xã hội, thông qua đó các chủ thể nhận được lợi ích từ mạng lưới quan hệ như dễ dàng huy động các nguồn lực khác và tạo ra nguồn vốn con người. Tuy nhiên, Bourdieu chưa phân loại được cấu trúc của mạng lưới quan hệ của các cá nhân và chưa đề cập đến các yếu tố chất lượng các mối quan hệ đó nên rất khó có thể xây dựng các tiêu chí đo lường vốn xã hội dựa trên định nghĩa này. Cũng tương tự như Bourdieu (1986), Coleman (1988, 1990) cho rằng vốn xã hội được thành hình qua những thay đổi trong liên hệ giữa người với người, cụ thể là những liên hệ dễ dàng hoá hành động. Điểm tiến bộ hơn so với Bourdieu là Coleman đã chỉ ra được ba khía cạnh biểu hiện chất lượng của vốn xã hội, bao gồm: nghĩa vụ, sự kỳ vọng, thông tin lẫn nhau và chuẩn mực tồn tại giữa các quan hệ xã hội.
Ba khía cạnh trên về sau đã được nhiều nghiên cứu kế thừa để phát triển thang đo về chất lượng của các mạng lưới xã hội như nghiên cứu của Cohen & Field (1998), Chou (2003). Tuy nhiên, hạn chế Coleman (1988, 1990) và Bourdieu (1986) vẫn chưa chỉ ra được cấu trúc của các mạng lưới quan hệ. Nahapiet và Ghosal (1998) cũng có quan điểm về vốn xã hội tương tự như Bourdieu và Coleman khi cho rằng vốn xã hội bao gồm các nguồn lực thực tế và tiềm ẩn bên trong mạng lưới các mối quan hệ được sở hữu bởi một tổ chức hoặc cá nhân trong xã hội (gọi chung là chủ thể), thông qua mạng lưới đó các chủ thể trong xã hội huy động được các nguồn lực khác. Nahapiet & Ghosal (1998) còn chỉ ra ba khía cạnh của vốn xã hội là (1) khía cạnh cấu trúc mạng lưới: chỉ ra những ai trong hệ thống phân cấp mạng lưới, tần suất kết nối giữa các chủ thể, kết cấu trong mạng lưới; (2) là khía cạnh quan hệ: biểu hiện chất lượng của các mối quan hệ như sự tín cẩn, kỳ vọng và chia sẻ lẫn nhau giữa các chủ thể trong mạng lưới; và (3) là khía cạnh nhận thức: là những quy định về sự chia sẻ, ngôn ngữ, ký hiệu…để giao tiếp và hành xử với nhau trong mạng lưới.
Thực ra ba khía cạnh đề cập đến vốn xã hội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 của Nahapiet & Ghosal là cách lý giải khác về ba khía cạnh được đề cập bởi Coleman (1988, 1990). Thực chất ba khía cạnh của vốn xã hội của Nahapiet & Ghosal (1998) thì khía cạnh cấu trúc đề cập đến sự cấu thành mạng lưới, khía cạnh quan hệ và nhận thức đề cập đến yếu tố chất lượng của mạng lưới. Về sau được nhóm nghiên cứu Landry & các cộng sự (2000) sử dụng cho phân tích vốn xã hội trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng giống như Coleman (1988, 1990) và Bourdieu (1986), Nahapiet & Ghosal (1998) vẫn chưa phân loại rõ các loại mạng lưới quan hệ.
Trong các nghiên cứu của Fukuyama (1995, 1997) đã khẳng định tầm quan trọng của thuộc tính chất lượng mạng lưới quan hệ là sự tín cẩn ảnh hưởng đến sự thành công trong các hoạt động kinh tế. Do vậy năm 1997, Ông đã chỉ rõ rằng vốn xã hội có thể được định nghĩa đơn giản như sự tồn tại của các giá trị, chuẩn mực xã hội giúp các thành viên vận dụng để hợp tác lẫn nhau (Fukuyama, 1997). Trong các nghiên cứu của Fukuyama đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thuộc tính chất lượng của các mạng lưới quan hệ, nhưng cũng có những hạn chế giống các nhà nghiên cứu trước đó như Coleman (1988, 1990) và Bourdieu (1986), Nahapiet & Ghosal (1998) là chưa phân loại được cấu trúc của mạng lưới quan hệ. Putnam (1993) tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của chất lượng mạng lưới quan hệ là sự tín cẩn, các chuẩn mực xã hội.
Vài năm sau đó, ông (Putnam,1995) bổ sung thêm một luận điểm nữa về chất lượng của mối quan hệ là sự kỳ vọng của những người tham gia mạng lưới. Loại co cụm vào nhau gây tác động tiêu cực cho xã hội; loại vươn ra ngoài có tác động tích cực cho xã hội.