Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ THỂ LOẠI TRUYỀN KÌ 1. Khái niệm thể loại Theo Từ điển Văn học, khái niệm truyền kì xuất hiện lần đầu tiên tại Trung Quốc vào thời nhà Đường trong tên gọi thể loại tiểu thuyết truyền kì. Tiểu thuyết truyền kì kế thừa những nhân tố của loại truyện chí quái thời Lục triều. Tiểu thuyết truyền kì là thể văn tự sự cổ điển của Trung Quốc, có nguồn gốc từ truyện dân gian, sử dụng những yếu tố hoang đường, kì ảo để phản ánh hiện thực cuộc sống.
Những yếu tố hoang đường kì ảo này không phải là dạng nhân vật Bụt, tiên với vai trò là nhân vật chức năng như trong truyện cổ tích thần kì, cũng không phải là lực lượng tự nhiên được nhân hóa như trong truyện thần thoại. Sự tham gia của yếu tố thần kì, hoang đường trong tiểu thuyết truyền kì phần lớn ở trong hình thức “phi nhân tính” của các nhân vật. Đó là dạng nhân vật ma, quỷ, hồ li, vật hóa người. Truyện bao giờ cũng có nhân vật là người thật và những nhân vật như ma quỷ, yêu quái… cũng là sự cách điệu, phóng đại tâm lí, ẩn dụ cho một loại người nào đó trong xã hội hiện thực.
Theo tác giả Đoàn Lê Giang, chữ “kì” trong “truyền kì” trong những tác phẩm Truyền kì của Bùi Hình, Đường Tống truyền kì (Lỗ Tấn) không có nghĩa là kì ảo, kì dị mà phải hiểu như một quan niệm văn học, một phương pháp sáng tác; quan niệm này xem trọng cái “lạ” trong sáng tác. Điều đó giúp chúng ta lí giải vì sao một số truyện dù được gọi là “truyền kì” nhưng lại hiếm hoi hoặc thậm chí không có yếu tố hoang đường, kì ảo như những truyện Oanh Oanh truyện, Liễu Thị truyện (Trung Quốc) hay những truyện trong Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh (Việt Nam). Trong luận văn này, chúng tôi hiểu “kì” trong “truyền kì” theo cả hai nghĩa trên. Tuy gọi là tiểu thuyết nhưng tiểu thuyết truyền kì có dung lượng ngắn, tuy nhiên không phải sự thu ngắn của kiểu truyện dài.
Tiểu thuyết truyền kì phần nào mang dáng dấp của thể loại truyện ngắn cận – hiện đại. 12 Trong văn học Trung Quốc, hai chữ “truyền kì” được khai sinh vào thời vãn Đường với một tập sách của Bùi Hình, nhưng thể loại truyền kì đã được xác lập từ thời sơ Đường với các truyện Cổ kính kí (Vương Độ (?) ), Bổ Giang tổng Bạch Viên truyện (không rõ tác giả), Du tiên quật (Trương Thốc). Còn trong văn học Việt Nam, có thể nói tên gọi truyền kì chính thức xuất hiện lần đầu trong văn học viết vào thế kỉ XVI với tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Tuy nhiên, những đặc điểm của thể loại truyền kì đã xuất hiện khá rõ nét từ Thánh Tông di thảo (thế kỉ XV) và nhạt hơn trong một số tác phẩm trước đó như Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh… Thậm chí, theo Vũ Thanh, truyện kì ảo của Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện từ thế kỉ XIII với truyện Ứng Minh trì dị sự (Chuyện lạ ở ao Ứng Minh) [52,739].
Như vậy, có thể nói, trong lịch sử văn học Việt Nam, thể loại truyền kì đã manh nha xuất hiện từ buổi đầu của văn học viết trong những tác phẩm ghi chép các truyện kì lạ được lưu truyền trong dân gian như Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh sau đó phát triển mạnh và đạt đến đỉnh cao với những sáng tác như Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục; đặc biệt là với Truyền kì mạn lục, thể loại truyện truyền kì Việt Nam đã đạt được thành tựu rực rỡ, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của văn học trung đại Việt Nam. Có thể nói, truyện truyền kì Việt Nam có nguồn gốc từ truyền kì của Trung Quốc nhưng có một quá trình hình thành, phát triển nội sinh, gắn liền với nền văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa dân gian và văn xuôi lịch sử. Trong quá trình phát triển của mình, truyền kì Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn học các nước trong khu vực Đông Á (như Triều Tiên, Nhật Bản) và đồng thời cũng góp phần vào sự phát triển chung của thể loại này trong văn học khu vực thời trung đại. Đặc trưng của thể loại truyền kì 1.
Đặc trưng về nội dung Truyền kì là một thể loại giàu giá trị phản ánh hiện thực. Dù thế giới trong truyền kì là một thế giới hoang đường, kì ảo nhưng đằng sau những yếu tố hoang đường đó là hiện thực lịch sử, xã hội cùng với những số phận con người trong những hoàn cảnh xã hội cụ thể. 13 Đó có thể là một xã hội đầy biến động, rối ren, loạn lạc với giặc giã, trộm cướp, với những cuộc nội chiến trong Truyền kì mạn lục hay Lan Trì kiến văn lục. Trong hai mươi truyện của Truyền kì mạn lục, có những truyện vẽ nên hình ảnh một đất nước “binh biến rối ren” (Chuyện người nghĩa phụ Khoái Châu), “người chết chóc nhiều, những oan hồn không có chỗ tựa nương thường họp lại thành từng đoàn, từng lũ” (Chuyện tướng Dạ Xoa).
Lan Trì kiến văn lục cũng ghi lại một thời kì “giặc cướp nổi lên như ong, lại thêm mất mùa, dịch bệnh” (Dốc Lôi Thủ). Xã hội phong kiến trong các sáng tác truyền kì là một xã hội nhiều tệ lậu với những hôn quân, những quan tham lại nhũng bè phái nhau hãm hại dân lành. Những tên vua quan đó có khi được miêu tả trực tiếp, có khi được ẩn dụ gián tiếp qua hình ảnh quỷ thần hoặc loài vật. Đọc Truyền kì mạn lục, ta thấy hình ảnh những vị vua nhà Lê thời suy vong (Lê Uy Mục, Lê Tương Dực) qua hình ảnh của vua Hồ Hán Thươnng trong Câu chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na.
Hiện lên trong truyện ngắn này là một vị vua “dối trá, tính nhiều tham dục, đem hết sức dân để dựng cung Kim Âu, dốc cạn kho của để mở phố Hoa Nhai, phao phí gấm là, vung vãi châu ngọc, dùng vàng như cỏ rác, tiêu tiền như đất bùn, hình ngục có của đút là xong, quan chức có tiền mua là được, kẻ dâng lời ngay bị giết, kẻ nói điều nịnh thì được thưởng, lòng dân động lay…” [11,tr. Trong khi đó, quan lại khi quyền cao lộc hậu thì tham của đút lót, “kêu xin chạy chọt lúc nào cũng rộn rịp những người ra vào, vàng bạc châu báu trong nhà chồng chất đầy rẫy”, nhờ đó mà ăn chơi xa hoa “khoản đãi khách khứa mỗi ngày tốn phí đến hàng chuông thóc” [11,tr.199] Không những thế, như Lý Hữu Chi trong Chuyện Lý tướng quân lại còn “dựa lũ trộm cướp coi như lòng ruột, coi người nho sĩ như cừu thù, thích sắc đẹp, ham tiền tài, tham lam không chán, lại tậu ruộng vườn, dựng nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao, dồn đuổi xóm giềng cho ruộng đất, đi kiếm những kì hoa đá lạ từ bên huyện khác đem về…” [11,tr.226] Truyện tuy khẳng định đó là vào thời vua Giản Định Đế thời Hậu Trần nhưng thực tế hẳn không xa lạ với xã hội thế kỉ XVI của Nguyễn Dữ. Trong Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên tào, Nguyễn Dữ mượn lời Tử Hư đã vẽ nên bộ mặt triều đình 14 phong kiến mục ruỗng thời bấy giờ với những tên quan lại chỉ là bọn sâu dân hại nước: “ông mỗ ở ngôi trọng thần mà tham lam không chán, ông mỗ làm chức sư tư mà mô phạm không đủ, ông mỗ coi lễ mà lễ nhiều thiếu thốn, ông mỗ chăn dân mà dân nhiều tai hại, ông mỗ chấm văn mà lấy đỗ thiên vị, ông mỗ trị ngục mà buộc tội oan uổng; lại còn những người lúc thường bàn nói thi môi mép bẻo lẻo, đến lúc trù tính, quyết định kế lớn của quốc gia thì mờ mịt như ngồi trong đám mây mù, thậm chí không nói theo danh, không xét theo thực, không trung với đấng quân thượng, lớn thì làm việc bán nước như Lưu Dự, nhỏ thì làm việc dối vua của Diên Linh.145] Có khi các tác giả truyện truyền kì mượn hình ảnh của quỷ thần, loài vật để ẩn dụ cho bọn quan lại phong kiến thời bấy giờ. Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, hình ảnh “các đền miếu gần quanh đều ăn của đút lót” của hồn ma Bách hộ họ Thôi mà bao che cho hắn, để hắn mặc sức hưng yêu tác quái và lời thổ thần nước Việt vì vậy không thông đạt được lên trên phải chăng là hình ảnh bọn vua quan phong kiến trên cõi trần thời Nguyễn Dữ sống, những tên quan lại bè phái nhau hãm hại dân lành? Đọc Tân truyền kì lục của Phạm Quý Thích, ta thích thú với hình ảnh Nhặng xanh và Ve sầu (truyện Ve sầu và Nhặng xanh).
Cuộc đối đáp của hai côn trùng này vẽ nên tích cách của hai loại người. Ve sầu tượng trưng cho nhà Nho quân tử giàu lòng tự trọng, trong khi đó Nhặng xanh là hình ảnh của bọn mọt nước sâu dân, không chút tự trọng, liêm sỉ, chỉ cần biết vơ vét cho túi tham của mình. Trong hoàn cảnh xã hội như vậy, cuộc sống của nhân dân muôn phần khổ sở. Quyền sống của con người không được trân trọng, hạnh phúc bị chà đạp, đặc biệt người phụ nữ phải chịu nhiều bất hạnh hơn cả.
Người dân sống dưới ách cai trị của những vua quan như vậy hẳn nhiên chịu cực khổ trăm bề, phải “phục dịch nhọc nhằn, anh nghỉ thì em đi, chồng về thì vợ đổi, ai nấy đều tai sưng vai rách, rất là khổ sở…” [11,tr. Có những gia đình nghèo khó đến nỗi chẳng có tiền làm ma khi người thân qua đời, phải bán vợ đợ con, như trong Chuyện yêu quái ở Xương Giang (Truyền kì mạn lục), người mẹ vì không tiền để đưa ma chồng về quê đã bán người con gái nhỏ cho một nhà phú thương. Những người phụ nữ trong xã hội ấy, 15 dù đoan chính, dịu hiền, mẫu mực như Vũ Nương (Chuyện người thiếu phụ Nam Xương – Truyền kì mạn lục), Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa phụ Khoái Châu – Truyền kì mạn lục) hay táo bạo, phá phách như Túy Tiêu (Chuyện nàng Túy Tiêu) thì cũng đều chịu kết cục đau đớn, hoặc bị nghi oan đến phải trầm mình (Vũ Nương), hoặc bị biến thành vật gán nợ thua bạc (Nhị Khanh) hoặc bị cướp về làm thê thiếp (Túy Tiêu), hoặc bị ép uổng không lấy được người mình yêu để đến nỗi đau buồn mà mất (Chuyện tình ở Thanh Trì – Lan Trì kiến văn lục). Xã hội đó cũng là một xã hội đầy những kẻ bất nhân với những nho sĩ lừa thầy phản bạn, kẻ phú thương hay quan lại cậy tiền của cướp vợ người.