Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật. Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên sâu, kết hợp các khía cạnh kinh tế, chính trị và xã hội học pháp luật để giải quyết vấn đề quản lý và kiểm soát vi phạm trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản (ĐTXDCB).

Về tính cấp thiết của đề tài, tác giả phân tích trên hai bình diện:

  • Cấp thiết về mặt lý luận: Vấn đề đầu tư công, pháp luật đầu tư công và vi phạm pháp luật trong đầu tư công đã được tiếp cận ở nhiều góc độ khoa học khác nhau như kinh tế học, chính trị học, hành chính học, xã hội học và pháp lý học. Tuy nhiên, các công trình trong và ngoài nước chưa thực sự tập trung giải quyết thấu đáo vấn đề vi phạm pháp luật trong ĐTXDCB có nguồn vốn ngân sách nhà nước (NSNN) dưới lăng kính lý luận chung về nhà nước và pháp luật, chưa làm rõ cơ chế hình thành vi phạm cũng như chưa vận dụng hiệu quả phương pháp nghiên cứu liên ngành.
  • Cấp thiết về mặt thực tiễn: Tại Việt Nam, tình trạng vi phạm pháp luật và tội phạm trong ĐTXDCB sử dụng vốn NSNN diễn biến phức tạp và nghiêm trọng. Tình trạng thất thoát tài sản nhà nước diễn ra phổ biến, gây tiêu hủy nguồn lực, phá vỡ quy hoạch và kế hoạch phát triển quốc gia, vùng lãnh thổ và ngành kinh tế - kỹ thuật. Vi phạm tạo ra áp lực tài chính lớn cho việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, làm tha hóa một bộ phận cán bộ, công chức và gây bất bình trong dư luận xã hội. Dù Quốc hội đã ban hành và sửa đổi nhiều đạo luật như Luật Ngân sách nhà nước, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Đầu tư công năm 2014, và các cơ quan thanh tra, kiểm toán đã phát hiện nhiều sai phạm điển hình, các hành vi vi phạm vẫn ngày càng tinh vi hơn, đòi hỏi phải có tư duy pháp lý mới và giải pháp toàn diện.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện ở cấp độ lý luận khoa học pháp lý về hành vi vi phạm pháp luật trong ĐTXDCB có vốn NSNN; chưa làm rõ các yếu tố cấu thành và cơ chế tương tác bên trong - bên ngoài dẫn đến hành vi vi phạm; đồng thời chưa có hệ thống giải pháp phòng, chống mang tính khả thi gắn liền với tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu: Tìm kiếm các giải pháp phòng, chống vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn nhà nước mang tính khoa học và ứng dụng trong thực tiễn Việt Nam hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề án được đánh số cụ thể gồm:

  1. Thống kê, tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học của nước ngoài và trong nước về đầu tư xây dựng cơ bản, pháp luật đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước và vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách của Nhà nước. Trên cơ sở đó xác định rõ những vấn đề đã được nghiên cứu cần kế thừa, phát triển; những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án.
  2. Phân tích, làm sáng tỏ những cơ sở lý luận về vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước như khái niệm, đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản có vốn nhà nước; khái niệm, đặc điểm vi phạm pháp luật và vi phạm pháp luật đầu tư xây dựng cơ bản có vốn nhà nước; nội dung vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước, các điều kiện bảo đảm phòng, chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.
  3. Hệ thống hoá thực trạng vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước theo 3 giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng từ 2010-2014.
  4. Tìm nguyên nhân chủ quan, khách quan của vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước.
  5. Phân tích, luận giải các quan điểm giải pháp bảo đảm phòng, chống vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay.

Giả thuyết khoa học của luận án: Trong khoa học chưa giải quyết thấu đáo về đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước, chưa có những nghiên cứu xác đáng về vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn NSNN ở bình diện lý luận; chưa có những nghiên cứu một cách hệ thống, tổng quát về những hành vi vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn NSNN và chưa chỉ ra được những nguyên nhân của những vi phạm; chưa có những giải pháp chung và giải pháp cụ thể để đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước.

Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước, các quan điểm, giải pháp phòng chống loại vi phạm pháp luật này.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Chỉ nghiên cứu vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng sử dụng ngân sách nhà nước.
  • Về thời gian: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này từ năm 2010 đến năm 2014.
  • Về không gian: Nghiên cứu hoạt động vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước trên quy mô toàn quốc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm chủ đề cụ thể:

Các nghiên cứu nước ngoài về đầu tư xây dựng cơ bản và vi phạm pháp luật:

  • Nghiên cứu về đầu tư công và rủi ro đầu tư: Nayef R.Al-Rodhan với công trình “Định nghĩa về toàn cầu về những so sánh và triển vọng cho các chương trình đầu tư” chỉ ra xu hướng đầu tư và các hiểm họa như tham nhũng, lãng phí, thất thoát; Tổ chức OECD công bố “Danh mục các từ khoá và định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài”; Giáo sư Theodore H.Moan trong “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển các chính sách thường niên cho các nước có nền kinh tế phát triển” phân tích lý luận về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước, ODA và tư nhân; David E.Lubroff với “Các dự án Đầu tư: Sự thay đổi quan điểm chính trị đối với đầu tư đô thị” nghiên cứu sự thất bại của các dự án công cộng đô thị tại Mỹ giai đoạn 1960-1970 và vai trò của các quyết sách chính trị; Peter Hall trong “Thảm hoạ kế hoạch - Chuỗi các dự án phát triển đô thị ở California” phân tích "bệnh lý quy hoạch" qua 5 thảm họa và 2 gần như thảm họa; cuốn sách “Đầu tư công, tăng trưởng và những hạn chế tài chính: Những thách thức đối với các nước thành viên EU mới” phân tích mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư công và áp lực nợ công, thâm hụt ngân sách; tập thể tác giả Anand Rajaram, Kai Kaiser, Tuấn Minh Lê, Jay-Hyung Kim và Jonas Frank với công trình “Sức Mạnh của quản lý đầu tư công - Tài sản cho sự tăng trưởng” đề xuất 8 giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công, xử lý tình trạng lựa chọn nhà đầu tư dựa trên bảo trợ chính trị và gian lận trong thẩm định dự án.
  • Nghiên cứu về vi phạm pháp luật và tội phạm học: Nhóm tác giả Xô viết (V.) trong tác phẩm “Sự sai lệch chuẩn mực xã hội” nghiên cứu cấu trúc, cơ chế, nguyên nhân của hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật và đạo đức; Brent Teasdale, Eric Silver và John Monahan (Đại học Akron, Pennsylvania State, Virginia) nghiên cứu về mối liên hệ giữa tâm lý, giới tính và vi phạm pháp luật, chỉ ra nam giới có xu hướng vi phạm cao hơn nữ giới; Giáo sư Barbara D. Underwood (Đại học Luật Yale, 1979) trong công trình “Pháp luật và quả cầu pha lê - dự đoán về hành vi hợp pháp và vi phạm pháp luật trước các phán quyết tư pháp” phân tích tính quy luật của hành vi vi phạm phụ thuộc vào ý chí chủ thể và sự kiểm soát của xã hội.
  • Nghiên cứu về tham nhũng trong ngành xây dựng: Tác giả Jill với nghiên cứu “Tham nhũng và thông đồng trong xây dựng - góc nhìn từ ngành công nghiệp” (Corruption and collusion in construction: a view from the industry) chỉ ra ngành xây dựng thuộc nhóm ngành xảy ra tham nhũng nhiều nhất toàn cầu, với ước tính 20% - 30% giá trị dự án bị thất thoát; Khảo sát năm 2013 của Viện Xây dựng Hoàng gia Anh (CIOB) mang tên “Corruption in the UK Construction Industry” ghi nhận 49% người tham gia khảo sát tin rằng tồn tại tham nhũng trong đầu tư xây dựng tại Anh, xuất phát từ việc quy trình bị chia nhỏ qua nhiều giai đoạn và sự tham gia phức tạp của nhiều chủ thể cung ứng.

Các nghiên cứu trong nước về đầu tư xây dựng cơ bản và vi phạm pháp luật:

  • Về góc độ kinh tế và quản lý công: PGS. Đinh Công Tuấn (Chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước KX.09/11-15, năm 2013) nghiên cứu “Khủng hoảng nợ công ở một số nước Liên minh châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”; TS. Nguyễn Thị Lan Hương với cuốn sách “Những vấn đề pháp lý về tài chính doanh nghiệp”; công trình “Phân phối bình đẳng các nguồn lực kinh tế: Tiếp cận lý luận và thực tiễn ở một số quốc gia”; TS. Trần Anh Tuấn và PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải (đồng chủ biên) với giáo trình “Kinh tế khu vực công” phân tích chi tiêu công, vai trò của chính phủ và phân bổ nguồn lực.
  • Về góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cung cấp hệ thống lý luận nền tảng về khái niệm, dấu hiệu, cấu thành vi phạm pháp luật, lỗi và phân định vi phạm hành chính với tội phạm hình sự.
  • Các công trình chuyên đề và đề tài nghiên cứu cấp bộ, cấp cơ sở: Phạm Ngọc Đản (2006, Văn phòng Chính phủ) nghiên cứu bài học ngăn ngừa tham nhũng qua công tác thanh tra; Lê Hùng Minh (2006, Kiểm toán Nhà nước) nghiên cứu chống thất thoát ngân sách trong kiểm toán ĐTXDCB, khảo sát kinh nghiệm Điều 22, Điều 23 Luật Kiểm toán Nga và phương pháp kiểm toán dựa vào hệ thống của Ủy ban Kiểm toán và Thanh tra Hàn Quốc (BAI); đề tài của Thanh tra Bộ Nội vụ (2003) về xử lý khiếu nại hành chính; đề tài của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2005) về xử lý vi phạm quy định ưu đãi đầu tư; Viện Kinh tế Xây dựng - Bộ Xây dựng (đề tài RD05) nghiên cứu vai trò quản lý nhà nước trong đầu tư xây dựng; Viện Khoa học Công an (1997) và Cục Cảnh sát kinh tế (1998, 1999) nghiên cứu thực trạng và giải pháp phòng ngừa tham nhũng trong ĐTXDCB; Trần Quốc Nam (2000) nghiên cứu kiểm toán tuân thủ trong đầu tư xây dựng; Phạm Khắc Xương (2002) nghiên cứu về thất thoát, lãng phí vốn NSNN; Lê Thế Tiệm và đồng nghiệp (2006) xuất bản sách chuyên khảo về đấu tranh phòng chống tham nhũng trong xây dựng cơ bản; Luận án tiến sĩ luật của NCS Xổm Thong Vi Lay Phôn (2009) nghiên cứu vi phạm pháp luật kinh tế tại CHDCND Lào.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình đã tiếp cận hiện tượng vi phạm dưới các khía cạnh kinh tế, quản lý hoặc điều tra tội phạm, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật. Các kết quả nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở giá trị nhận thức chung, chưa làm rõ cơ chế hình thành vi phạm (sự tương tác giữa yếu tố tâm lý chủ quan và môi trường thể chế bên ngoài), thiếu sự vận dụng phương pháp liên ngành và chưa đánh giá một cách có hệ thống thực trạng vi phạm trong ĐTXDCB sử dụng ngân sách tại Việt Nam theo 3 giai đoạn của quá trình đầu tư giai đoạn 2010-2014 để đề xuất hệ thống giải pháp khả thi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích:

  • Cơ sở lý luận nền tảng: Chủ nghĩa Mác - Lênin (phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quản lý kinh tế và đầu tư xây dựng cơ bản có vốn NSNN.
  • Khung khái niệm và lý thuyết chuyên ngành: Luận án dựa trên lý luận chung về nhà nước và pháp luật để phân tích 4 yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật gồm: khách thể (các quan hệ quản lý kinh tế và sở hữu tài sản nhà nước), mặt khách quan (hành vi vi phạm các quy định cấm, hậu quả thiệt hại và mối quan hệ nhân quả), chủ thể (người có thẩm quyền, chức vụ trong quản lý dự án và các cá nhân liên quan), và mặt chủ quan (lỗi cố ý hoặc vô ý, động cơ vụ lợi).
  • Khái niệm công cụ: Khái niệm đầu tư công theo Điều 4 Luật Đầu tư công năm 2014; khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản; khái niệm và đặc điểm các nguồn vốn nhà nước (ngân sách cấp phát, vốn doanh nghiệp nhà nước có nguồn gốc ngân sách, vốn tín dụng nhà nước, vốn vay và viện trợ ODA); khái niệm lãng phí tài sản công.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng tại Chương 2, Chương 3 và Chương 4 nhằm phân tích các khái niệm lý luận, mổ xẻ thực trạng vi phạm và tổng hợp các nhóm quan điểm, giải pháp phòng chống.
  • Phương pháp tiếp cận hệ thống: Sử dụng tại Chương 2, Chương 3 và Chương 4 để xem xét hoạt động ĐTXDCB và vi phạm pháp luật như một chỉnh thể thống nhất gồm nhiều giai đoạn liên hoàn, chịu sự chi phối của hệ thống quy định pháp luật và các điều kiện bảo đảm thi hành.
  • Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lôgíc: Áp dụng xuyên suốt Chương 2, Chương 3 và Chương 4 để duy trì tính mạch lạc từ cơ sở lý thuyết, phân tích biểu hiện thực tế đến xây dựng luận cứ cho các giải pháp.
  • Phương pháp thống kê và xã hội học pháp luật: Được áp dụng trong Chương 3 để thu thập, phân loại, lượng hóa số liệu vi phạm và đánh giá phản ứng thực tế của các chủ thể tham gia vào quan hệ ĐTXDCB giai đoạn 2010-2014.
  • Phương pháp so sánh: Sử dụng tại Chương 1 để đối chiếu các hướng tiếp cận học thuật quốc tế và trong nước; đồng thời áp dụng tại Chương 3 để so sánh mức độ, biểu hiện vi phạm giữa các giai đoạn đầu tư và giữa các địa bàn.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Hiến pháp, Luật Đầu tư công (2014), Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Dữ liệu quản lý tài chính và đầu tư công: Báo cáo số liệu chi ngân sách nhà nước từ Viện Quản lý kinh tế Trung ương (số liệu cân đối chi ngân sách năm 2010: vốn đầu tư phát triển có xây dựng là 120 nghìn tỷ đồng).
  • Dữ liệu thực tiễn thanh tra, kiểm toán: Kết luận của các đoàn thanh tra Chính phủ, báo cáo kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam, hồ sơ xử lý vi phạm trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản trên phạm vi cả nước.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục của luận án gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, cùng 4 chương với 14 tiết.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai khối nội dung: nghiên cứu về ĐTXDCB, pháp luật ĐTXDCB; và nghiên cứu về vi phạm pháp luật trong ĐTXDCB có vốn NSNN.

  • Luận điểm chính: Tác giả chỉ ra rằng đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước đã được quan tâm nghiên cứu ở nhiều quốc gia, tập trung vào các rủi ro tham nhũng, thông đồng trong đấu thầu, khủng hoảng nợ công và kiểm soát đầu tư công (với các nghiên cứu tiêu biểu của Nayef R.Al-Rodhan, OECD, Theodore H.Moan, David E.Lubroff, Peter Hall, Anand Rajaram, Jill, CIOB). Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Đinh Công Tuấn, Lê Hùng Minh, Phạm Ngọc Đản, các giáo trình lý luận pháp luật của Đại học Luật Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã tiếp cận từng khía cạnh riêng biệt như tài chính, kiểm toán, điều tra tội phạm hoặc lý luận đại cương.
  • Khoảng trống lý luận được chỉ ra: (1) Kết quả nghiên cứu trước đây chỉ mang giá trị nhận thức, chưa tạo cơ sở ứng dụng vào nghiên cứu vi phạm cụ thể trong ĐTXDCB vốn NSNN; (2) Chưa nghiên cứu cơ chế hình thành vi phạm (sự tương tác giữa yếu tố tâm lý chủ quan và tác động thể chế bên ngoài); (3) Thiếu phương pháp nghiên cứu liên ngành để làm rõ hành vi của chủ thể vi phạm.
  • Yêu cầu thực tiễn: Cần đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng vi phạm trong ĐTXDCB tại Việt Nam, chỉ rõ hạn chế trong công tác phòng chống và xây dựng hệ thống giải pháp khả thi, phù hợp với mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước

Chương 2 tập trung phân tích bản chất pháp lý, đặc điểm của hoạt động ĐTXDCB, nguồn vốn NSNN và cấu thành của vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.

Đặc điểm hoạt động ĐTXDCB và vốn NSNN:

  • Sản phẩm ĐTXDCB có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, chu kỳ sản xuất dài, mang tính đơn chiếc và giá trị sử dụng lâu dài qua hàng chục hoặc hàng trăm năm.
  • Hoạt động đầu tư trải qua nhiều công đoạn chặt chẽ (chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc đầu tư) với sự tham gia của nhiều ngành kỹ thuật và nhiều nhà thầu, đồng thời chịu tác động lớn của điều kiện tự nhiên và thời tiết.
  • Vốn NSNN dùng cho ĐTXDCB thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, dẫn đến tình trạng "không có chủ đầu tư đích thực". Quyết định chi tiêu giao cho các cá nhân nhưng cơ chế quy trách nhiệm cá nhân đối với tổn thất, lãng phí chưa tương xứng. Quy mô vốn hàng năm rất lớn (năm 2010 vốn đầu tư phát triển có xây dựng là 120 nghìn tỷ đồng). Trách nhiệm thanh toán bằng chứng từ thay vì tiền mặt trực tiếp và cơ chế "xin - cho" vốn làm nảy sinh hành vi đưa và nhận hối lộ.

Đặc điểm của vi phạm pháp luật trong ĐTXDCB có vốn NSNN:

  • Về mặt khách quan: Biểu hiện qua các hành vi bị cấm như ra quyết định chủ trương đầu tư không phù hợp quy hoạch hoặc không cân đối được vốn; quyết định đầu tư khi chưa có chủ trương; lợi dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản; thông đồng giữa chủ đầu tư và đơn vị tư vấn; đưa, nhận, môi giới hối lộ; yêu cầu tự bỏ vốn gây nợ đọng xây dựng cơ bản; làm giả hồ sơ, báo cáo sai lệch; cố ý che giấu, tiêu hủy tài liệu.
  • Về mặt chủ thể: Chủ thể vi phạm chủ yếu là cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, thẩm định, quản lý dự án, hội đồng giải phóng mặt bằng, hoặc những người có chuyên môn kỹ thuật sâu, nhiều kinh nghiệm quản lý, có quan hệ xã hội rộng và sử dụng thủ đoạn tinh vi để che giấu vi phạm.
  • Về lỗi: Chủ yếu là lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp). Lỗi vô ý (vô ý do quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả) cũng xuất hiện trong các khâu tính toán kỹ thuật, khảo sát.
  • Về đặc điểm xã hội: Phần lớn các vi phạm đều bị thúc đẩy bởi động cơ vụ lợi vật chất (chiếm đoạt tài sản, tiền bạc của Nhà nước).
  • Về hậu quả: Bao gồm hậu quả kinh tế - kỹ thuật (thất thoát tiền vốn, giảm chất lượng công trình, chậm tiến độ, đưa công nghệ lạc hậu vào sử dụng); hậu quả kinh tế - chính trị - xã hội (lãng phí của cải xã hội, làm chệch hướng mục tiêu phát triển, gia tăng phân hóa giàu nghèo, xói mòn niềm tin vào chính quyền); và hậu quả lãng phí các nguồn lực công.

Biểu hiện vi phạm theo các giai đoạn đầu tư:

  • Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Vi phạm trong lập quy hoạch (chồng chéo, thiếu chiến lược, không theo kịp thực tế); lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và khả thi mang tính hình thức, điều tra qua loa; vi phạm trong thẩm định dự án (kéo dài thời gian, nhận hồ sơ không đầy đủ, nhũng nhiễu đòi chi phí); ra quyết định đầu tư sai quy mô, công nghệ không phù hợp, không đánh giá tác động môi trường.
  • Giai đoạn thực hiện đầu tư:
    • Khâu đền bù giải phóng mặt bằng: Đền bù không thỏa đáng, áp sai khung giá, xác nhận khống tài sản trên đất, giải quyết quyền lợi không minh bạch dẫn đến khiếu kiện tập thể kéo dài, công trình bị đình trệ làm tăng chi phí lãi vay và trượt giá.
    • Khâu khảo sát, thiết kế và lập dự toán: Khảo sát không đủ mẫu, sai quy chuẩn kỹ thuật dẫn đến phải điều chỉnh thiết kế nhiều lần; thiết kế không đồng bộ gây lún, nứt; thông đồng lập dự toán ban đầu thấp dưới giá trị thực tế để được giao thầu, sau đó lập hồ sơ phát sinh khối lượng để rút tiền ngân sách.
    • Khâu lựa chọn nhà thầu: Thông đồng nâng giá gói thầu để ăn chia; dàn xếp "quân xanh, quân đỏ" để một đơn vị định trước trúng thầu; bán thầu sau khi trúng thầu liên danh; bỏ giá thầu thấp dưới giá thành rồi nâng giá quyết toán sau; chia nhỏ gói thầu để chỉ định thầu hoặc trục lợi.

Bảng tổng hợp các dạng hành vi vi phạm điển hình theo các giai đoạn đầu tư:

Giai đoạn đầu tư Khâu công việc Hành vi vi phạm chủ yếu Dạng lỗi và động cơ
Chuẩn bị đầu tư Lập quy hoạch, đề xuất dự án Quy hoạch treo, quy hoạch chồng chéo; lập báo cáo tiền khả thi và khả thi qua loa, sai lệch dữ liệu thị trường và môi trường. Cố ý gián tiếp hoặc vô ý cẩu thả; động cơ cục bộ địa phương.
Thẩm định và quyết định đầu tư Không tuân thủ quy trình thẩm định; nhũng nhiễu đòi tiền lót tay; phê duyệt dự án vượt quy mô thực tế, sai thẩm quyền. Lỗi cố ý trực tiếp; động cơ vụ lợi vật chất, nhận hối lộ.
Thực hiện đầu tư Đền bù, giải phóng mặt bằng Kê khai khống diện tích, xác nhận sai nguồn gốc đất và tài sản đền bù; chi trả không thỏa đáng, gây khiếu kiện kéo dài. Lỗi cố ý trực tiếp; vụ lợi, thông đồng chia chác tiền đền bù.
Khảo sát, thiết kế, lập dự toán Thu thập không đủ mẫu địa chất; chọn hệ số an toàn bất hợp lý; lập dự toán ban đầu thấp để thắng thầu rồi bổ sung phát sinh. Lỗi cố ý trực tiếp (thông đồng dự toán) hoặc vô ý cẩu thả (khảo sát).
Lựa chọn nhà thầu Thông đồng gửi giá; bố trí "quân xanh, quân đỏ"; mua bán chuyển nhượng thầu trái phép; chia nhỏ gói thầu trái luật. Lỗi cố ý trực tiếp; động cơ vụ lợi, cấu kết trục lợi ngân sách.

Chương 3: Thực trạng vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014

Chương 3 sử dụng phương pháp thống kê, so sánh và xã hội học pháp luật để phản ánh thực trạng vi phạm trong giai đoạn 2010 - 2014:

  • Thực trạng vi phạm diễn ra xuyên suốt ở cả 3 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư (nghiệm thu, bàn giao, thanh quyết toán đưa vào sử dụng).
  • Các kết quả phát hiện qua công tác thanh tra của Thanh tra Chính phủ và kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước chỉ ra nhiều sai phạm điển hình: chi sai chế độ, nghiệm thu khối lượng khống, giải ngân vượt khối lượng thi công thực tế, nợ đọng xây dựng cơ bản kéo dài ở nhiều địa phương.
  • Phân tích nguyên nhân vi phạm:
    • Nguyên nhân khách quan: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn giữa luật chuyên ngành và luật quản lý tài chính; cơ chế quản lý vốn nhà nước còn kẽ hở khi trách nhiệm giải trình của người đứng đầu chưa được quy định chặt chẽ; thị trường nguyên vật liệu biến động lớn và tác động bất lợi của thiên tai, thời tiết.
    • Nguyên nhân chủ quan: Sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ có chức vụ, quyền hạn; trình độ năng lực chuyên môn của cán bộ ban quản lý dự án chưa đáp ứng yêu cầu; cơ chế kiểm tra, giám sát nội bộ mang tính hình thức; sự thông đồng có chủ đích giữa các đơn vị tư vấn, nhà thầu và cơ quan phê duyệt; việc xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm phòng, chống vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm định hướng và đề xuất các nhóm giải pháp toàn diện:

  • Hệ thống quan điểm: Quán triệt đường lối của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; gắn liền việc phòng, chống vi phạm với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; kết hợp đồng bộ giữa biện pháp phòng ngừa hành chính, kinh tế với xử lý nghiêm minh bằng chế tài pháp lý hình sự.
  • Các nhóm giải pháp chủ yếu:
    • Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Khắc phục sự mâu thuẫn giữa Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu và Luật Ngân sách nhà nước; cụ thể hóa các chế tài xử phạt hành chính và hình sự đối với hành vi thông đồng, làm sai lệch hồ sơ dự án.
    • Đổi mới cơ chế quản lý và phân bổ vốn NSNN: Xóa bỏ triệt để cơ chế "xin - cho"; thực hiện nghiêm ngặt kế hoạch đầu tư công trung hạn; minh bạch hóa toàn bộ quy trình cấp phát, giải ngân và thanh quyết toán vốn.
    • Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư: Siết chặt kỷ luật lập và phê duyệt quy hoạch; nâng cao trách nhiệm pháp lý của cơ quan tư vấn lập dự án, thẩm định thiết kế và dự toán.
    • Công khai, minh bạch hoạt động đấu thầu: Đẩy mạnh đấu thầu qua mạng nhằm loại bỏ hiện tượng "quân xanh, quân đỏ" và bán thầu; xử lý nghiêm hành vi bỏ giá thầu thấp bất thường nhằm mục đích lập dự toán bổ sung sau này.
    • Tăng cường hiệu lực kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và giám sát xã hội: Đổi mới phương thức kiểm toán dựa trên hệ thống (tham khảo mô hình của BAI Hàn Quốc); phát huy vai trò giám sát cộng đồng tại địa bàn triển khai dự án; thực hiện chuyển ngay hồ sơ có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra (vận dụng kinh nghiệm Điều 22, Điều 23 Luật Kiểm toán Nga).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật về vi phạm pháp luật trong ĐTXDCB có vốn NSNN tại Việt Nam.
  • Xây dựng khái niệm khoa học về vi phạm pháp luật trong ĐTXDCB có nguồn vốn NSNN, đồng thời làm rõ 4 yếu tố cấu thành pháp lý (chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan) đặc thù của loại vi phạm này.
  • Phân tích và luận giải cơ chế hình thành vi phạm dựa trên sự tác động qua lại giữa các yếu tố tâm lý chủ quan (động cơ vụ lợi vật chất, lỗi cố ý) và môi trường thể chế bên ngoài (sự buông lỏng quản lý, kẽ hở quy trình, cơ chế "xin - cho").
  • Xác định hệ thống các điều kiện bảo đảm phòng, chống vi phạm pháp luật trong ĐTXDCB có vốn NSNN trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp:

  • Hệ thống hóa, phân tích và đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng vi phạm pháp luật trong ĐTXDCB có vốn NSNN tại Việt Nam theo 3 giai đoạn đầu tư trong giai đoạn 2010 - 2014 trên phạm vi toàn quốc.
  • Chỉ rõ những biểu hiện vi phạm đặc trưng trong thực tế như thông đồng gửi giá, lập dự toán khống, mua bán thầu, dàn xếp "quân xanh, quân đỏ", kê khai sai lệch trong giải phóng mặt bằng, cùng các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến thực trạng đó.
  • Đề xuất hệ thống quan điểm khoa học và các giải pháp đồng bộ, khả thi: từ hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, đổi mới cơ chế phân bổ và thanh toán vốn đầu tư công, siết chặt kỷ cương đấu thầu, đến nâng cao năng lực và trách nhiệm của cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Về nội dung: Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các dự án ĐTXDCB sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, chưa mở rộng nghiên cứu đối với các dự án xây dựng sử dụng các nguồn vốn nhà nước ngoài ngân sách hoặc các mô hình đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP).
  • Về thời gian: Dữ liệu thực tiễn được thống kê, phân tích và đánh giá chỉ tập trung trong mốc thời gian từ năm 2010 đến năm 2014, chưa phản ánh được các biến chuyển thực tiễn sau khi Luật Đầu tư công năm 2014 và Luật Xây dựng năm 2014 chính thức có hiệu lực thi hành đầy đủ trong đời sống kinh tế - xã hội.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Nghiên cứu thực trạng và cơ chế phòng chống vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng sau khi triển khai thi hành Luật Đầu tư công năm 2014, Luật Xây dựng năm 2014 và các luật sửa đổi, bổ sung liên quan.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các dự án ĐTXDCB sử dụng nguồn vốn hỗn hợp, vốn vay ODA và hình thức đầu tư đối tác công - tư (PPP).
  • Nghiên cứu sâu hơn dưới góc độ tội phạm học và tâm lý học tư pháp đối với hành vi tham nhũng, thông đồng trong chuỗi cung ứng ngành xây dựng cơ bản.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan lập pháp: Cung cấp cơ sở khoa học để rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng, Luật Ngân sách nhà nước; hỗ trợ thiết kế các quy định chặt chẽ nhằm triệt tiêu cơ chế "xin - cho" và ngăn chặn thất thoát tài sản công.
  • Đối với cơ quan thanh tra, kiểm toán và cơ quan tư pháp: Giúp các cán bộ thanh tra, kiểm toán viên nhận diện chính xác các thủ đoạn vi phạm tinh vi tại từng công đoạn (từ thẩm định dự án, lập dự toán, tổ chức đấu thầu đến nghiệm thu khối lượng), từ đó nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm toán tuân thủ và điều tra xử lý tội phạm kinh tế.
  • Đối với các viện nghiên cứu, trường đại học: Làm tài liệu tham khảo chuyên khảo trong nghiên cứu và giảng dạy các học phần Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Văn hóa pháp lý và Pháp luật kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản lại là nơi dễ phát sinh vi phạm pháp luật và tham nhũng nhất? Theo phân tích của luận án, nguyên nhân cốt lõi là do nguồn vốn này thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, dẫn đến tình trạng không có một "chủ đầu tư đích thực" đứng ra chịu trách nhiệm vật chất trực tiếp bằng tài sản của chính mình. Quyền quyết định đầu tư được giao cho các cá nhân nhưng cơ chế quy trách nhiệm cá nhân đối với tổn thất, lãng phí chưa tương xứng. Thêm vào đó, quan niệm xem vốn nhà nước là vốn "cho không" và phương thức thanh toán bằng chứng từ thay vì tiền mặt trực tiếp đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp thức hóa hồ sơ, tạo chứng từ khống thông qua cơ chế "xin - cho".

  2. Luận án đã nhận diện những hành vi vi phạm phổ biến nào trong khâu lựa chọn nhà thầu xây lắp? Luận án chỉ ra các biểu hiện vi phạm đặc trưng gồm: (1) Chủ đầu tư và nhà thầu thông đồng gửi giá, nâng giá gói thầu và tiết lộ thông tin hồ sơ mời thầu; (2) Dàn xếp trước đơn vị trúng thầu bằng hiện tượng tạo lập "quân xanh, quân đỏ"; (3) Mua bán thầu sau khi trúng thầu liên danh (thường gặp tại các dự án ODA, vốn vay quốc tế); (4) Bỏ giá thầu thấp dưới giá thành xây dựng để trúng thầu, sau đó cùng chủ đầu tư lập hồ sơ phát sinh khối lượng để tăng giá trị quyết toán; (5) Cố ý chia nhỏ gói thầu trái quy định nhằm mục đích chỉ định thầu hoặc phân chia lợi ích cục bộ.

  3. Tại sao luận án khẳng định phần lớn vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý? Luận án lập luận rằng đặc điểm xã hội nổi bật của loại vi phạm này là bị chi phối trực tiếp bởi động cơ vụ lợi vật chất (chiếm đoạt tiền, tài sản của Nhà nước). Chủ thể thực hiện vi phạm hầu hết là những cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn cao, hiểu biết pháp luật và am hiểu quy trình kỹ thuật. Do đó, họ hoàn toàn nhận thức rõ tính chất trái pháp luật và thấy trước hậu quả thiệt hại của hành vi đối với ngân sách nhà nước, nhưng vì mong muốn đạt được lợi ích kinh tế cho bản thân hoặc nhóm lợi ích nên vẫn cố tình thực hiện hành vi vi phạm.

  4. Quy mô vốn ngân sách đầu tư cho xây dựng cơ bản được luận án dẫn chứng cụ thể qua con số nào? Trong Chương 2, luận án dẫn số liệu thống kê từ Viện Quản lý kinh tế Trung ương cho thấy: trong cân đối chi ngân sách nhà nước năm 2010, riêng khoản vốn đầu tư phát triển có xây dựng đã đạt mức 120 nghìn tỷ đồng. Con số này phản ánh quy mô vốn công đổ vào xây dựng cơ bản là rất lớn, đồng thời khẳng định mức độ rủi ro thất thoát nghiêm trọng nếu không có cơ chế pháp lý kiểm soát hữu hiệu.

  5. Những hậu quả kinh tế - kỹ thuật trực tiếp do vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản gây ra là gì? Hậu quả kinh tế - kỹ thuật được luận án chỉ rõ gồm: gây thất thoát, lãng phí lớn nguồn tiền ngân sách; làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng công trình (do các khoản tiền chi cho hối lộ, tham ô, hoa hồng bị cắt xén trực tiếp vào khối lượng và chất lượng vật tư xây lắp); làm kéo dài tiến độ thi công công trình; và dẫn đến tình trạng đưa máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ cũ kỹ, lạc hậu vào thi công hoặc khai thác sử dụng.

Kết luận

Luận án "Vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam" là công trình khoa học pháp lý chuyên sâu thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật, giải quyết toàn diện vấn đề kiểm soát vi phạm trong đầu tư công dưới góc nhìn thể chế. Tác giả đã xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về cấu thành vi phạm, nhận diện đặc điểm chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và cơ chế hình thành vi phạm qua các giai đoạn đầu tư. Trên cơ sở phân tích thực trạng giai đoạn 2010 - 2014, luận án đã làm rõ các nguyên nhân cốt lõi và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện quy định pháp luật, đổi mới quản lý tài chính công đến tăng cường hiệu lực thanh tra, kiểm toán. Kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp nguồn tư liệu có giá trị cho công tác lập pháp, hoạt động thực thi pháp luật và giảng dạy lý luận nhà nước và pháp luật tại Việt Nam.