CHƯƠNG 1 ỨNG XỬ VĂN HÓA VÀ TIẾN TRÌNH SÁNG TẠO TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP 1. Giới thuyết một số vấn đề chung 1. Khái niệm văn hóa Hiện nay các nhà nghiên cứu về văn hóa, các tổ chức và các quốc gia trên thế giới đã công bố hàng trăm các định nghĩa về văn hóa. Thuật ngữ “văn hóa” hiện có nhiều quan niệm khác nhau do cách tiếp cận khác nhau.
Theo từ điển tiếng thông dụng thì Văn hóa là “Những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong quá trình lịch sử” [14, tr 1247]. Theo cách tiếp cận này thì “Văn hóa” được hiểu là những sản phẩm phục vụ đời sống của con người cả về vật chất và phi vật chất, có sức sống lâu dài với thời gian. Quan niệm của Hồ Chủ tịch về văn hóa cũng khá rộng, trong cuốn Hồ Chí Minh toàn tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [14, tr431]. Nói theo nghĩa rộng, văn hóa là tất cả những giá trị tinh thần và vật chất mà con người đã sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình, là cái biểu hiện trình độ của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định, là dòng chảy liên tục kết nối quá khứ, hiện tại và tương lai. Tại Hội nghị của UNESCO tháng 7 năm 1982, với 500 nhà nghiên cứu về văn hóa đã thống nhất định nghĩa văn hóa với ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này: “Văn hóa là một phức thể - tổng thể các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, 15 trí thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một gia đình, cộng đồng, xóm làng, vùng miền, quốc gia, dân tộc… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng, những di sản văn hóa hữu thể và những di sản văn hóa vô hình” [40, tr. Theo nghĩa hẹp thì văn hóa được quan niệm quá trình con người sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của đời sống con người về vật chất và tinh thần.
Tiêu biểu tác giả Trần Ngọc Thêm đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [41, tr10]. Định nghĩa này đã chỉ ra được một cách cụ thể hơn về các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra đó là các giá trị về vật chất và tinh thần nhưng quá trình sáng tạo các giá trị văn hóa là quá trình con người tương tác với nhau và tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội, tạo nên các giá trị văn hóa. Chính quan niệm này của tác giả về văn hóa qua đó đã khái quát lên đặc trưng cơ bản của văn hóa đó là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Theo tác giả Phạm Xuân Nam cho rằng: “Yếu tố hàng đầu của văn hóa là sự hiểu biết, bao gồm trí thức khoa học, kinh nghiệm và sự khôn ngoan tích lũy được trong quá trình học tập, lao động sản xuất và đấu tranh để duy trì và phát triển cuộc sống của mỗi cộng đồng dân tộc và mỗi thành viên trong cộng đồng ấy.
Nhưng chỉ riêng sự hiểu biết thôi chưa làm nên văn hóa. Sự hiểu biết chỉ trở thành văn hóa khi nó làm nền và định hướng cho thế ứng xử (thể hiện ở tâm hồn, đạo lý, lối sống, thị hiếu, hành vi…) của mỗi cá nhân và cả cộng đồng hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ với mình, với người, với môi trường xã hội và môi trường tự nhiên…” [42, tr. 16 Theo tác giả Lê Tiêu La, dưới góc nhìn của xã hội học thì văn hóa được xã hội học quan tâm trên ba bình diện chính: Văn hóa được xem như là hệ thống những giá trị, chuẩn mực, biểu trưng và có ý nghĩa xã hội. Văn hóa như là cơ sở của xã hội hóa cá nhân, tức là khách thể của sự lĩnh hội con người trong quá trình hoạt động của mình.
Văn hóa là những gì được con người tạo ra, lưu giữ bảo tồn và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phần văn hóa vật chất và tinh thần do thế hệ trước tạo lập được truyền cho thế hệ sau và được họ tiếp nhận và lĩnh hội, kế thừa và phát triển gọi là di sản văn hóa. Bản chất của văn hóa là quá trình chuẩn mực hóa nhu cầu con người, từ những hình ảnh, biểu tượng, ngôn ngữ… để xây dựng nên mối quan hệ giữa con người với nhau: cha con, vợ chồng, làng xóm, bạn bè, đồng nghiệp… Thông qua sự giao tiếp và đặc biệt là ứng xử, bản chất con người được hình thành rõ nét và đây cũng chính là cơ sở, là cái nôi để hình thành nên văn hóa [43; tr43]. Quan niệm về ứng xử Ứng xử là những phản ứng, hành vi của con người nảy sinh trong quá trình giao tiếp, do những rung cảm cá nhân kích thích nhằm lĩnh hội truyền đạt những tri thức, vốn sống kinh nghiệm của cá nhân, xã hội trong những tình huống nhất định.
Ứng xử là một yếu tố rất quan trọng tạo hình thành bản sắc văn hóa của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc và xã hội. Ứng xử là một từ ghép của hai từ “ứng” và từ “xử”. Ứng còn được hiểu là phản ứng, ứng phó, ứng biến và đáp ứng… Xử nghĩa là xử sự, đối xử, xử lý, xử thế… Ứng xử trong các mối quan hệ của con người với tự nhiên, xã hội, với người khác và với bản thân là phản ứng của người đó trước mọi tác động trong một tình huống cụ thể nhất định. Từ lâu vấn đề ứng xử trong mối quan hệ xã hội giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội, con người với gia đình, con người với chính mình, đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu.
Dưới góc độ xã hội học, 17 ứng xử được dùng “để chỉ các hành động và nói như thế nào đó của một vai trò này đối diện với một vai trò khác (tức một cặp vai trò như vợ/chồng, cha con, cấp trên/cấp dưới, anh/em…) và đó là hành động hoặc gọi là phản ứng, theo một cách tương đối. Ứng xử không chỉ giới hạn ở giữa các vai trò xã hội khác nhau mà ứng xử với mình, ứng xử với đồ vật, với tự nhiên [44, tr123]. Khái niệm văn hóa ứng xử Văn hóa ứng xử là một trong những dạng thức của văn hóa. Thuật ngữ văn hóa ứng xử tại Việt Nam được đề cập đến trong quá trình xây dựng con người mới, đời sống văn hóa mới.
Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm không trình bày một định nghĩa về văn hóa ứng xử nhưng đã xác định nội hàm của khái niệm này. Tác giả cho rằng, nội dung của văn hóa ứng xử là thái độ của cộng đồng với hai loại môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Với mỗi loại môi trường đều có cách xử thế phù hợp là: tận dụng và ứng phó môi trường. Các cộng đồng chủ thể trong văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường: môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu…) và môi trường xã hội (các quốc gia láng giềng…) Với mỗi loại môi trường đểu có cách thức xử thế phù hợp là: tận dụng môi trường (ảnh hưởng tích cực) và ứng phó với môi trường (ảnh hưởng tiêu cực) [41, tr16-17].
Theo Phạm Thế Hùng, văn hóa ứng xử là: “Thế ứng xử, là sự thể hiện triết lý sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của một cộng đồng người trong công việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội từ vi mô (gia đình) đến vĩ mô (nhân gian) [45, tr17]. Theo Đỗ Long trong cuốn: “Tâm lý học với văn hóa ứng xử” thì cho rằng “Văn hóa ứng xử là hệ thống thái độ hành vi được xác định để xử lý các mối quan hệ giữa người với người trên căn cứ pháp lý và đạo lý nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển của cộng đồng, của xã hội” [46, tr17]. Văn hóa ứng 18 xử còn được dùng chỉ thái độ, hành vi của con người trong giao tiếp đời sống với những người xung quanh. Văn hóa ứng xử bao gồm cả cách ứng xử với thiên nhiên, với môi trường nhân văn xung quanh đời sống con người.
Văn hóa ứng xử là phương thức giao tiếp và tự bảo tồn của con người với mọi vật xung quanh đời sống con người. Văn hóa ứng xử luôn có tính lịch sử cụ thể, tức là khi có những điều kiện kinh tế - xã hội của thời đại thay đổi thì nó cũng có những điều chỉnh cần thiết cho thích hợp. Từ những phân tích về khái niệm “văn hóa” và khái niệm “ứng xử”, có thể thấy rằng có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “văn hóa ứng xử”. Một cách khái quát, có thể hiểu “Văn hóa ứng xử là hệ thống những giá trị có tính chuẩn mực về cách ứng xử, thái độ, hành vi của con người trong giao tiếp đời sống với những người xung quanh, nó cũng bao gồm cả cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn xung quanh đời sống con người”.
Ứng xử văn hóa trong đời sống. Quan niệm về cách ứng xử trong truyền thống. Trong cuộc sống, người Việt luôn quan tâm, coi trọng vấn đề giao tiếp, coi đây là thước đo nhận biết và đánh giá bản chất, tri thức và tầm văn hóa của một con người.