Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đối ngoại và văn hóa đối ngoại 1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực quan hệ quốc tế được gọi là đối ngoại hay ngoại giao của nhiều quốc gia. Một số công trình nghiên cứu về phân tích chính sách đối ngoại, có những nghiên cứu như Foreign Policy Decision Making: an Approach to the Study of International Politics (Ra quyết định chính sách đối ngoại - một cách tiếp cận nghiên cứu chính trị quốc tế) [111] của Richard Snyder, H.Bruck và Burton Sapin (2021), và Pre-Theories and Theories of Foreign Policy (Các tiền đề lý thuyết và lý thuyết về chính sách đối ngoại) của James Rosenau (1996) [106].
Các nghiên cứu này tìm cách giải mã những yếu tố quyết định hành vi quốc gia, chủ thể nhà nước và các yếu tố liên quan tới việc ra quyết định chính sách đối ngoại. Rosenau cho rằng cần khái quát hóa hành vi của các quốc gia một cách hệ thống và có cách tiếp cận chính sách đối ngoại so sánh (comparative foreign policy) để tìm một lý thuyết bao quát về chính sách đối ngoại trong mọi thời gian và không gian. Những tài liệu này cho rằng cần nghiên cứu chính sách đối ngoại không những ở kết quả mà còn trong quá trình hoạch định chính sách. Vì vậy, nghiên cứu về phân tích chính sách đối ngoại đã được mở rộng và tiếp thu thành quả của nhiều ngành học khác nhau trong quá trình phát triển thành một chuyên ngành nghiên cứu.
Cuốn sách Intercultural Communication and Diplomacy (Truyền thông và ngoại giao liên văn hóa) [95] của tác giả Hannah Slavik được ấn hành bởi DiploFoundation năm 2004. Công trình này là tập hợp các bài báo được trình 11 bày tại hai hội nghị: Hội nghị truyền thông và ngoại giao liên văn hóa năm 2003, và Hội nghị năm 2004 về tổ chức và văn hóa chuyên môn và ngoại giao. Các chủ đề bao gồm lý thuyết cơ bản, giao tiếp đa văn hóa trong thực tiễn về ngoại giao, đàm phán và giải quyết xung đột, văn hóa chuyên nghiệp và tổ chức, đào tạo cho các nhà ngoại giao. Các bài báo trong tập sách này tiếp cận chủ đề giao tiếp văn hóa và ngoại giao từ nhiều quan điểm văn hóa khác nhau, bởi tác giả của các bài viết này đến từ nhiều quốc gia và ở nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau (bao gồm các ngành dịch vụ quốc tế, các trường đại học, các doanh nghiệp), trong đó có cả các tổ chức phi chính phủ.
Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, văn hóa trở thành một trong những thành tố quan trọng hình thành “sức mạnh mềm” của các quốc gia. Xây dựng và thực thi chính sách văn hóa đối ngoại là một trong những chính sách đối ngoại được nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm.Nye được xem là “cha đẻ” cho lý thuyết sức mạnh mềm (soft power) với các công trình Bound To Lead: The Changing Nature of American Power (Ràng buộc để dẫn đầu: sự thay đổi nguồn gốc sức mạnh của nước Mỹ) ((1990) [100]; Soft power. The means to success in world politics and understand international conflict (Quyền lực mềm: Những phương thức để đạt được thành công trong chính trị thế giới và nhận biết về xung đột quốc tế) (2004) [99], trong đó, tác giả này cho rằng việc sử dụng văn hóa đối ngoại là một trong những cấu phần quan trọng để xây dựng “sức mạnh mềm” quốc gia, đã và đang trở thành xu hướng có tính chiến lược của nhiều quốc gia, trong đó có Trung Quốc, Mỹ, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản… Bên cạnh đó, một số học giả phương Tây còn nghiên cứu về chính sách đối ngoại ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước như David W.Elliot trong Changing Worlds: Vietnam’s Transition from Cold War to Globalization (Thế giới đang thay đổi: Sự chuyển đổi của Việt Nam từ chiến 12 tranh lạnh sang toàn cầu hóa) [94], New York, Oxford University Press (2012); Eero Palmujoki trong Vietnam and the World: Marxist - Leninist, Doctrine and the Changes in International Relation, (1975) [103], Macmillan, London (1997), đã nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn Đổi mới, sự đổi mới trong tư duy và hoạt động đối ngoại trong bối cảnh sau chiến tranh lạnh. Các tài liệu này đã so sánh, khái quát sự thay đổi chính sách đối ngoại Việt Nam trước và trong thời kỳ Đổi mới, trong và sau Chiến tranh lạnh.Thayer và Rames Amer trong Vietnamese foreign policy in transition (Chính sách đối ngoại Việt Nam trong quá trình chuyển đổi) (2000) [113] đã phân tích những yếu tố khác nhau dẫn tới việc Việt Nam gia nhập ASEAN vào năm 1995.
Về cách tiếp cận, Carlyle A.Thayer trong Vietnam’s Regional Intergration: The Costs and Benefits of Multilateralism (Sự hội nhập khu vực của Việt Nam: Chi phí và lợi ích của chủ nghĩa đa phương) [114] cho rằng chủ nghĩa khu vực và đa phương là cách tiếp cận phù hợp cho Việt Nam.Vuving trong Strategy and Evolution of Vietnam’s China Policy: A Changing Mixture of Pathway, (Chiến lược và sự phát triển của chính sách đối với Trung Quốc của Việt Nam: Một hỗn hợp các con đường đang thay đổi) [117] lại áp dụng cách tiếp cận cân bằng quyền lực, cân bằng nguy cơ để phân tích các bước đi ngoại giao của Việt Nam.Turley với công trình Vietnamese security in domestic and regional focus: The political-Economic Nexus (An ninh Việt Nam trong nước và khu vực trọng điểm: Mối quan hệ chính trị-kinh tế) [115] trong Southest Asian Security in the New Millenium, M.Sharpe Armonk, New York cho rằng vị trí địa chiến lược quan trọng của Việt Nam cũng tạo ra nhiều nguy cơ. Vị trí láng giềng với Trung Quốc đã khiến Việt Nam là một trong những nước ASEAN dễ bị tổn thương nhất và cũng đã từng đối mặt với những thách thức chiến lược nghiêm trọng nhất. Việt Nam phải 13 đấu tranh để duy trì không gian sinh tồn, bảo vệ bản sắc và lợi ích dân tộc, đồng thời phải tránh kích động chủ nghĩa dân tộc của Trung Quốc. Turley cho rằng Việt Nam đã điều chỉnh quan điểm và chính sách của mình “từ đối đầu sang hợp tác với ASEAN”.
Hà Nội đã hướng tới ASEAN “để hỗ trợ cân bằng lại áp lực của Trung Quốc” và “cân bằng kỳ vọng về thị trường và tài chính từ phương Tây và Nhật Bản”.Vuving với The Impact of China on Governance Structures in Vietnam trong The Impact of Russia, India and China on Governance Structures in their Regional Environment (Tác động của Trung Quốc đối với Cơ cấu Quản trị ở Việt Nam)(2008)[118] đã phân tích ASEAN là lựa chọn chiến lược của Việt Nam trong giai đoạn sau chiến tranh lạnh để đảm bảo không gian sinh tồn chiến lược. Báo cáo của Nhóm chuyên trách về Đối ngoại của Quốc hội Australia Vietnam’s Foreign Relations: Dilemma of Change (Quan hệ đối ngoại của Việt Nam: Tiến thóai lưỡng nan của sự thay đổi) [122] đã phân tích về thế tiến thóai lưỡng nan của Việt Nam trong giai đoạn đầu thời kỳ Đổi mới, với các khó khăn trong vấn đề Campuchia, quan hệ với các nước lớn và ASEAN. Các tác giả cho rằng đã có sự thay đổi lớn trong chính sách đối ngoại của Việt Nam kể từ cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 khi Việt Nam chuyển sang chính sách đối ngoại cân bằng và đa phương. Việt Nam đã vươn lên trở thành một thành viên chủ chốt trong các vấn đề ở Đông Nam Á và trên thế giới, cũng như tác động của hệ tư tưởng đối với việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam.
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác như cuốn sách The New Public Diplomacy: Soft Power in International Relations (Lý thuyết ngoại giao công chúng mới: Quyền lực mềm trong quan hệ quốc tế hiện nay) [98] của tác giả Jan Melessen do Palgrave Macmillan xuất bản năm 2005. Cuốn sách giới thiệu chính sách ngoại giao công chúng mới trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn;… 14 1. Những công trình nghiên cứu ở trong nước So với hoạt động nghiên cứu ngoài nước, hoạt động nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài phong phú hơn rất nhiều. Gần đây, các nhà nghiên cứu trong nước đều thừa nhận rằng, ngoại giao văn hóa là sự tồn tại của các dòng thông tin và tư tưởng xuyên quốc gia, và do đó đều gắn lĩnh vực này với truyền thông quốc tế.
Tư duy đó đã mở ra hướng nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn về vai trò của truyền thông trong ngoại giao văn hóa hay văn hóa đối ngoại. Vậy làm thế nào để văn hóa thực sự có thể trở thành sức mạnh mềm thì chúng ta có câu trả lời là: khi nó được lan toả rộng rãi và có sức cuốn hút các chủ thể khác tự nguyện làm theo. Cuốn sách chuyên khảo Ngoại giao và công tác ngoại giao (xuất bản lần thứ tư) của tác giả Vũ Dương Huân do Nxb Chính trị quốc gia phát hành năm 2018 đã đưa ra khái niệm, phân loại ngoại giao… Tác giả đã tổng hợp các quan điểm khác nhau về ngoại giao, bao gồm cả quan điểm trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, từ đó thống nhất sử dụng khái niệm ngoại giao của A.Gromyko trong Từ điển Ngoại giao của Liên Xô. Với cách tiếp cận này, ngoại giao và đối ngoại có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó ngoại giao là những hoạt động cụ thể của đối ngoại do cơ quan và cá nhân có thẩm quyền đảm nhận.
Trong cuốn sách Ngoại giao và công tác ngoại giao (xuất bản lần thứ tư) do Nxb Chính trị quốc gia phát hành năm 2018, tác giả Vũ Dương Huân cho rằng ngoại giao văn hóa chính là: Tuyên truyền văn hóa đối ngoại đó là bộ phận trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, là tổng hợp các hoạt động thông tin, tuyên truyền, quảng bá văn hóa Việt Nam; trao đổi, giao lưu, hợp tác về văn hóa hoặc có nội dung văn hóa nhằm tạo điều kiện hỗ trợ giao lưu kinh tế, chính trị, nâng cao uy tín, vị thế 15 của Việt Nam trên trường quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới phục vụ công tác phát triển nền văn hóa dân tộc, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội, quá trình hội nhập quốc tế và thực hiện công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước [38, tr.