CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Thành ngữ tiếng Việt Thành ngữ là đơn vị tương đương với từ. Tuy nhiên, thành ngữ có nhiều đặc điểm về hình thức, cấu tạo và ngữ nghĩa hoàn toàn khác biệt so với từ.
Về kết cấu, thành ngữ được cấu thành bằng rất nhiều cách thức phong phú, thường gồm từ hai từ trở lên kết hợp với nhau theo những quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa nhất định. Về nghĩa, nếu như mỗi từ có một hoặc một vài giá trị định danh thì thành ngữ có ý nghĩa biểu trưng, khái quát được cho cả một lớp sự vật, hiện tượng, đặc điểm, thậm chí cho cả nền văn hóa của một dân tộc. Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu và kết quả nghiên cứu của các tác giả khác nhau về thành ngữ. Ở mỗi công trình, từng tác giả lại có những quan niệm riêng về thành ngữ tiếng Việt.
Dưới đây, luận văn trình bày quan niệm về thành ngữ của ba tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Mai Ngọc Chừ và Đỗ Hữu Châu bởi lẽ luận văn cho rằng đây là những quan niệm đã chỉ rõ được những đặc điểm cơ bản của đơn vị từ vựng được gọi là thành ngữ tiếng Việt. Thành ngữ theo quan điểm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp A. Định nghĩa Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm. Ví dụ: chó ngáp phải ruồi, hồn xiêu phách lạc, nói thánh nói tướng, thắt lưng buộc bụng, giật gấu vá vai, lanh chanh như hành không muối, lừ đừ như ông từ vào đền.
Bên cạnh nội dung trí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng kèm theo các sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định, hoặc là kính trọng, tán thành; hoặc là chê bai khinh rẻ; hoặc là ái ngại xót thương…Chẳng hạn thành ngữ nói thánh nói tướng, vừa diễn đạt khái niệm “ba hoa, khoác lác” vừa kèm thêm thái độ chê bai, không tán thành; thành ngữ thắt lưng buộc bụng vừa diễn đạt khái niệm “tiết kiệm, dè xẻn”, vừa thể hiện cả thái độ tán thành; thành ngữ chó cắn áo rách vừa biểu thị sự không may, vừa tỏ thái độ cảm thông… 11 B. Phân loại thành ngữ Căn cứ vào cơ chế cấu tạo, có thể chia các thành ngữ ra hai loại lớn: 1) Thành ngữ hợp kết Cơ chế cấu tạo của loại này cũng tương tự như cơ chế cấu tạo của các ngữ định danh hợp kết. Nghĩa là: a) Nó cũng được hình thành do sự kết hợp của một thành tố biểu thị thuộc tính chung của đối tượng với các thành tố khác biểu thị thuộc tính riêng của đối tượng. Ví dụ, trong thành ngữ rách như tổ đỉa, rách biểu thị một thuộc tính chung về tính chất, còn tổ đỉa phản ánh một thuộc tính riêng về mức độ của tính chất đó.
Trong thành ngữ anh hùng rơm thì anh hùng biểu thị đối tượng ở dạng khái quát, dạng chung, còn rơm biểu thị một thuộc tính riêng của đối tượng. Như vậy, cơ chế cấu tạo của những thành ngữ như vừa nêu, cũng giống cơ chế cấu tạo của những ngữ định danh hợp kết, kiểu súng trường, súng lục, tàu thủy, áo dài… b) Nó cũng được hình thành nhờ sự kết hợp của hai thành tố nghĩa biểu thị những mặt riêng của một đối tượng chung hơn cần diễn đạt. Ví dụ: áo mảnh quần manh; mẹ góa con côi; mèo mả gà đồng; ruộng sâu trâu nái; nhà tranh vách đất; đầu bạc răng long; mẹ vò con nhện; ông chẳng bà chuộc… Cơ chế cấu tạo của những thành ngữ kiểu này tương tự với cơ chế cấu tạo của các ngữ định danh hòa kết, kiểu như: vui sướng , thành bại, cay đắng, gặt hái, rau quả,… 2) Thành ngữ hòa kết Cơ chế cấu tạo của loại này tương tự như cơ chế cấu tạo của các ngữ định danh hòa kết. Nghĩa là nó cũng được hình thành trên cơ sở của một ẩn dụ toàn bộ.
Ví dụ, thành ngữ chó ngáp phải ruồi có ý nghĩa chung, biểu thị sự gặp may. Ý nghĩa này được thể hiện thông qua một quá trình chuyển hóa thành đơn vị hậu ngữ nghĩa khác là “chó ngáp phải ruồi”. Đơn vị hậu ngữ nghĩa này lại được 12 biểu hiện trong các đơn vị ngữ âm cụ thể. Do đó các ý nghĩa của chó, ngáp, phải, ruồi chỉ trực tiếp cấu thành đơn vị hậu ngữ nghĩa, chứ không trực tiếp phản ánh những thuộc tính của khái niệm gặp “may” (đối tượng đang cần diễn đạt).
Có thể nói ý nghĩa của chúng đã hòa vào nhau để biểu thị một khái niệm mới. Những thành ngữ khác như: nuôi ong tay áo, cõng rắn cắn gà nhà, mèo mù vớ cá rán, chó có váy lĩnh, nước đổ lá khoai, nước đổ đầu vịt, vắt cổ chày ra nước, rán sành ra mỡ, gậy ông đập lưng ông, cá đối bằng đầu, hàng thịt nguýt hàng cá, ngã vào võng đào và những thành ngữ như: xanh vỏ đỏ lòng, miệng hùm gan sứa, mặt sứa gan lim, già trái non hột… đều thuộc loại thành ngữ hòa kết. Cơ chế cấu tạo của thành ngữ hòa kết giống như cơ chế cấu tạo của các ngữ định danh hòa kết kiểu: càng cua, mắt cá, chân vịt, gan dạ, mực thước… Cần phân biệt cấu tạo từng thành tố của thành ngữ với cơ chế cấu tạo toàn bộ thành ngữ. Trong thành ngữ nhà tranh vách đất thì cơ chế cấu tạo của toàn bộ thành ngữ cũng có tính trực tiếp.
Thế nhưng trong thành ngữ mèo mả gà đồng, cơ chế cấu tạo của từng thành tố mèo mả, gà đồng có tính chất gián tiếp, còn cơ chế cấu tạo của cả thành ngữ lại vẫn có tính trực tiếp; bởi vì các ý nghĩa của mèo mả và gà đồng là tương tự nhau và cũng phản ánh những biểu hiện riêng của khái niệm do thành ngữ biểu thị. Phân biệt thành ngữ với ngữ định danh và cụm từ tự do 1) Phân biệt thành ngữ với ngữ định danh a) Về mặt nội dung, thành ngữ khác với ngữ định danh ở các điểm sau đây: a.1- Ngữ định danh là tên gọi thuần túy của sự vật, còn thành ngữ là tên gọi gợi cảm của hiện tượng nào đó. Giá trị gợi cảm của thành ngữ được tạo ra nhờ sự tồn tại song song của hai phương diện nghĩa: nghĩa từ nguyên, là nghĩa hình thành từ nghĩa riêng của các thành tố theo quy tắc cú pháp và nghĩa thực tại của thành ngữ. Nước đổ lá khoai là thành ngữ có ý nghia từ nguyên “nước đổ vào lá khoai”; còn ý nghĩa thực tại của nó là “phí công, vô ích”.
Trong ngôn 13 ngữ học, nghĩa từ nguyên còn gọi là “hình thái bên trong”. Ở ngữ định danh, hình thái bên trong chủ yếu chỉ đóng vai trò cấu tạo ý nghĩa chung của cả đơn vị. Còn ở thành ngữ thì hình thái bên trong chẳng những chỉ cấu thành ý nghĩa chung mà còn tạo cho thành ngữ giá trị biểu cảm nữa. Vì thế, sau khi một ngữ định danh được hình thành thì vai trò của hình thái bên trong sẽ chấm dứt.
Trong giao tiếp, người nói và người nghe đều không cần chú ý đến hình thái bên trong của đơn vị đó mà càng xa mờ đi bao nhiêu, thì càng có lợi cho việc nhận thức ý nghĩa thực tại của nó bấy nhiêu. Trong các thành ngữ, hình thái bên trong là ý nghĩa hoàn toàn độc lập tồn tại bên cạnh ý nghĩa thực tại của chúng. Hình thái bên trong quy định ý nghĩa thực tại và sắc thái biểu cảm của ý nghĩa đó. Nếu ở ngữ định danh, hình thái bên trong và ý nghĩa thực tại thống nhất với nhau thì ở thành ngữ, hình thái bên trong và ý nghĩa thực tại lại tách rời nhau, thậm chí đối lập nhau.
Chính sự đối lập của hai diện ý nghĩa như thế đã tạo nên tính hình tượng của thành ngữ.2- Do có tính hình tượng cho nên ý nghĩa của thành ngữ luôn luôn có tính cụ thể. Nó không có khả năng diễn đạt đồng thời mối quan hệ chủng và loại, không có cả diện chung lẫn diện riêng của ý nghĩa như ngữ định danh. So sánh: xe đạp là một ngữ định danh. Nó vừa có thể biểu thị “tổng loại xe đạp nói chung” (diện chung của ý nghĩa).
Thành ngữ chạy long tóc gáy không biểu thị một khái niệm “chạy” nói chung mà biểu thị trạng thái “chạy tíu tít, bận rộn, khẩn cấp”. Chạy long tóc gáy khác chạy bở hơi tai, chạy nhơ cờ lông công, chạy rống Bái công… Do đó, thành ngữ không thể dùng cho bất kì tình huống nào có đặc điểm mà nó biểu thị.3- Thành ngữ chỉ hình thành ở những phạm vi mà sự phản ánh đòi hỏi cần có sự bình giá và biểu cảm. Phạm vi phản ánh như vậy là tùy thuộc vào hoàn cảnh sống, vào kinh nghiệm và cách nhìn nhận của từng dân tộc. Thành ngữ của tiếng Việt chủ yếu biểu thị những hiện tượng thuộc đời sống sinh hoạt của con người như: cách sống, phương sách đối nhân xử thế, tính cách, phẩm 14 hạnh của người và vật.
Trong phạm vi hoạt động trí tuệ của con người, như lĩnh vực thuật ngữ khoa học chẳng hạn, rõ ràng là vắng bóng các thành ngữ. Nhiều thành ngữ của tiếng nước ngoài, khi được trực dịch sang tiếng Việt thường không được công nhận là thành ngữ mà chỉ được nhận thức như là những đơn vị định danh thuần túy. Ví dụ : đường sắt, lầu năm góc, chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh. b) Về mặt cấu trúc cú pháp, thành ngữ kháp với ngữ định danh ở những điểm sau dây : b.l- Ở ngữ định danh hầu như rất ít gặp quan hệ tường thuật.
Còn ở thành ngữ thì quan hệ này lại chiếm tới 7%. ví dụ: anh hùng không có đất dụng võ; ăn mày đòi xôi gấc; bìm bịp bắt gà sống thiến; bò chết chẳng khỏi rơm; bọ chó múa bấc; chấu chấu đá xe; bụt chùa nhà không thiêng; cà cuống chết đến đít còn cay; chó có váy lĩnh; chó ngáp phải ruồi.2- Thành ngữ có cấu trúc đẳng lập khác với ngữ định danh cùng kiểu cấu trúc cả về lượng lẫn về chất. Về mặt số lượng, thành ngữ có quan hệ đẳng lập chiếm 70% tổng số; còn ngữ định danh có quan hệ đẳng lập chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ so với số lượng các ngữ định danh có quan hệ chính phụ. Về mặt chất lượng, thành tố cấu tạo của ngữ định danh có quan hệ đẳng lập chỉ gồm một từ (ví dụ: buôn bán, mua sắm.