Chương I Điều 5 Mục 3 quy định tiếng Việt là “ngôn ngữ quốc gia”, “Tiếng và chữ phổ thông là ngôn ngữ chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nó là phương tiện giao lưu không thẻ thiếu được giữa các địa phương và các dân tộc trong cả nước, giúp cho các địa phương và các dân tộc có thê phát triển đồng đều các mặt kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, v. tắng cường khối đại đoàn kết toàn đân và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc. Vì vậy, mọi công dân Việt Nam đều có nghĩa vụ và quyền lợi học tập và sử dụng tiếng và chữ phổ thông.
Chuẩn tiếng Việt Gần 4000 năm tổn tại và phát triển, tiếng Việt đã đạt được phẩm chất trong sáng, ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc đảm nhiệm những chức năng xã hội quan trọng. Sử dụng tiếng Việt cho trong sáng là sử dựng (heo các chuẩn mực của tiếng Việt. Vân đề “chuẩn mực hóa tiếng Việt” đã được GS. Hoàng Phê trình bày: - Chuẩn mực về phát âm và chữ viết.
Khi nói cần phải nói theo chuẩn mực về ngữ âm. Khi viết cần viết theo đúng các chuẩn mực hiện hành về chữ viết (dạng chữ, kiểu chữ, chính tả, viết hoa, đấu câu. - Chuẩn mực về từ ngữ. Chuân mực về từ đòi hỏi việc sử dụng từ phải đạt được những yêu cầu về các phương điện: âm thanh, hình thức cấu tạo, kết hợp ngữ pháp, nội dung ngữ nghĩa, màu sắc phong cách.
Đồng thời nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ còn đòi hỏi phát triển vốn từ của tiếng Việt sao cho vừa giàu có lại vừa giữ gin ban sắc tinh hoa của tiếng Việt. Tránh lạm dụng từ nước ngoải một cách tùy tiện, không cần thiết vừa dung hợp những yếu tố tích cực đối với tiếng Việt. - Chuẩn mực về ngữ pháp. Những chuẩn mực này tùy biểu hiện ở việc cấu tạo của từ, ở việc kết hợp các từ thành cụm từ và câu, trong việc cấu tạo và sử dụng các kiểu câu, ở việc cấu tạo các thành phần của văn bản và văn bản thuộc các loại khác nhau.
Các chuẩn mực này được đúc kết thành các quy tắc ngữ pháp và các quy tắc sử dụng. - Chuẩn mực về phong cách. Những chuẩn mực này xác định những đặc điểm tất yếu của việc dùng tiếng Việt trong các lĩnh vực giao tiếp và các tình huống giao tiếp khác nhau của cuộc sống xã hội. Mỗi lĩnh vực và tình huống như vậy có những nhiệm vụ và mục đích giao tiếp nhất định.
Do đó, nó cũng đòi hỏi những nhân tố và những phương tiện ngôn ngữ đặc thù. Có những chuẩn mực thuộc ngôn ngữ nói, có những chuẩn mực thuộc ngôn ngữ viết, có những chuẩn mực thuộc phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách nghệ thuật, phong cách khoa học, phong cách nghị luận, phong cách hành chính và phong cách báo chí công luận. Tuy nhiên, việc sử dụng tiếng Việt theo chuẩn mực không hề phủ nhận và thủ tiêu sự sáng tạo độc đáo trong cách dùng, những đóng góp mới mẻ và sự uyên chuyển, linh hoạt trong việc sử dụng. Có điều những đóng góp và sáng tạo đó phải dựa trên những quy luật, sự uyén chuyén, linh hoạt đó phải được thực hiện trong những điều kiện nhất định.
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt còn hàm chứa cả nội dung luôn luôn tiếp nhận những yếu tô ngôn ngữ có giá trị tích cực từ các tiếng bên ngoài, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thì sự giao lưu quốc tế và sự tiếp xúc văn hóa được mở rộng và phát triển cao độ hơn bao giờ hết. Chính tả tiếng Việt 1. Khái niệm chính tả Chính tả, hiểu theo nghĩa thông thường, là phép viết đúng. Đúng ở đây là đúng với truyền thống sử đụng chữ viết đã được xã hội thừa nhận, đúng với bản thân hệ thống văn tự của một ngôn ngữ.
Chính tả được xây dựng trên cơ sở của những quy định mang tính xã hội cao, được mọi người trong một quốc gia chấp nhận và sử dụng. Những quy định đó thường là thói quen trong thực tiễn sử đụng chữ viết của một dân tộc, hoặc cũng có thể là do những cơ quan nhà nước có thâm quyền ban hành. Bản chất chính tả là sự phiên tiếng thành chữ, là hệ thống các quy tắc xác lập các phương thức để chuyển lời nói sang chữ viết. Mỗi ngôn ngữ có cách riêng trong việc chuyển dòng âm thanh của lời nói thành chữ viết, nói cách khác, mỗi ngôn ngữ có hệ thống chính tả riêng của mình.
Ví dụ, người ta nói đến chính tả tiếng Việt, chính tả tiếng Anh, tiếng Nga. Như vậy: “Chính tá được hiểu là phép viết đúng: đúng theo quy định và truyén thống chữ viết của mỗi dân tộc. Viết đúng các âm, các thanh trong âm tiết. Rộng hơn, còn bao gom ca viéc viết hoa, viết các chữ số, viết các từ ngữ mượn tiếng nước ngoài, cách viết dấu câu theo đúng chuẩn mực [dẫn theo 17, tr.
Chữ viết tiếng Việt được ghi theo nguyên tắc ghi âm vị. Vì vậy, chính tả phải dựa trên chuẩn mực về ngữ âm (tức là chính âm). Đồng thời, chính tả trong chữ viết của ta hiện nay còn phải dựa vào những quy tắc của chữ quốc ngữ. Nguyên tắc chính tả tiếng Việt Chữ quốc ngữ là chữ viết dùng chữ cái để ghi âm.
Vì vậy, nguyên tắc cơ bản của chính tả tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học. Nguyên tắc này thé hiển mối liên hệ mật thiết giữa âm- chữ, là sự chuyển đổi các biểu tượng thính giác thành biểu tượng thị giác. Tuy nhiên, sự biến đôi của chữ viết và ngữ âm trong quá trình phát triển ngôn ngữ không có sự tương ứng đồng đều. Chữ 11 quốc ngữ hầu như không có gì thay đổi thì ngữ âm có sự biến đổi dù rất chậm.
Chính vì điều đó nên chữ viết và chính tả dù có cố găng đến đâu cũng có phần lạc hậu hơn so với mặt ngữ âm của ngôn ngữ. Để khắc phục hạn chế nảy, nguyên tắc ngữ âm học của chính tả được bổ sung bằng các nguyên tắc ngữ nghĩa và nguyên tắc thói quen sử dụng chữ viết đã được xã hội công nhận. Nguyên tắc ngữ âm học Đây là nguyên tắc cơ bản nhất, vì chữ tiếng Việt hiện đại là chữ viết theo nguyên tắc ghi 4m, hơn nữa là ghi âm vị. Vì vậy, cơ sở để xác định chính ta la cơ sở ngữ âm, nghĩa là phát âm như thế nào thì viết như thế ấy.
Nguyên tắc ngữ âm thể hiện ở hai phương diện: -_ Chữ viết phải theo đúng chuẩn ngữ âm. Do đó, những trường hợp viết theo cách phát âm địa phương hoặc cách phát âm cá nhân đều là sai chính tả. -_ Phải viết chữ theo đúng những quy tắc chung của chữ tiếng Việt hiện nay. Những quy tắc này được hình thành theo sự kết hợp các âm, các thanh hoặc các chữ cái.
Các quy tắc đó trở thành các mẹo luật chính tả. Ví dụ: ô cuối âm tiết, sau âm /a/ thì viết ¡, còn sau /š/ thì viết y: hai/hay/tai/tay. Nguyên tắc ngữ nghĩa Chữ viết của tiếng Việt không theo nguyên tắc ghi ý tức là không ghi phụ thuộc vào ý nghĩa của từng từ hay từng tiếng. Nó chỉ căn cứ vào âm thanh của từ ngữ, tùy thuộc vào thành phần âm thanh của từ ngữ.
Nhưng khi cần xác định chính tả ở những trường hợp mà hai hoặc nhiều khả năng đều có thé chap nhận về ngữ âm và chữ viết, thì việc viết theo cách nào là việc có thể căn cứ vào ý nghĩa của từ hay tiếng can biéu dat mà định đoạt. Ví dụ: Trong tiếng Việt có cả hai từ với hai diện mạo âm thanh và chữ viết khác nhau #ươu và hưu. Viết hươu là đúng chính tả khi muốn nói đến một loài động vật. Viết hưu là đúng chính tả khi muốn nói về thời kỳ được nghỉ làm việc đo con người tuổi cao hoặc sức yếu (nghỉ hưu).
Chính âm và hệ thống ngữ âm tiếng Việt 1. Chính âm tiếng Việt “Chính âm là cách phát âm phù hợp với chuẩn phát âm đã được thừa nhận trong một ngôn ngữ, hệ thống các chuẩn mực phát âm của ngôn ngữ do” [53]. Rèn luyện chính âm cho học sinh DTTS là giúp các em phát âm các đơn vị ngữ âm đạt chuẩn. Nắm vững bản chất của âm thanh tiếng Việt và hệ thống các đơn vị âm thanh chuẩn là cơ sở để việc rèn chính âm đạt kết quả cao.
Bản chất của các đơn vị ngữ âm thể hiện ở đặc điểm sinh học, đặc điểm âm học và đặc điểm xã hội. Âm thanh của ngôn ngữ được phát ra từ bộ máy phát âm của con người. Mỗi âm thanh do sự phối hợp một số bộ phận cấu tạo của bộ máy phát âm (cơ quan khởi phát nguồn hơi, dây thanh, hộp cộng hưởng) dẫn đến sự khác biệt trong giọng nói giữa các cá nhân. Do vậy, đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến kết quả phát âm đạt chuẩn hay không đạt chuẩn.
Đặc điểm âm học của âm thanh ngôn ngữ là cơ sở để xác định những điểm khu biệt và đồng nhất của các đơn vị ngữ âm trong hệ thống chuẩn. Các đơn vị ngữ âm được hình thành do quy ước của một cộng đồng dùng ngôn ngữ. Bản chất xã hội của âm thanh ngôn ngữ thể hiện ở sự thừa nhận của các thành viên trong cộng đồng đối với số lượng và cách thức phát âm đơn vị ngữ âm. Nhờ đặc điểm này, các đơn vị ngữ âm có tính dân tộc.
Những hiểu biết về bản chất xã hội của âm thanh ngôn ngữ là cơ sở khoa học giúp học sinh DTTS có ý thức rằng, muốn học tiếng Việt phải học cách phát âm chuẩn. Hệ thống ngữ âm tiếng Việt Cần dựa vào các các đơn vị ngữ âm và phương thức phát âm chuẩn để rèn kĩ năng phát âm cho học sinh. 4m vị và âm iết là các đơn vị ngữ âm chuẩn của tiếng Việt. Âm vị Âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất có chứa chức năng khu biệt nghĩa, nhận diện từ.
Trong hệ thống ngữ âm, các âm vị được phân chia thành nguyên âm và phụ âm. Các đơn vị ngữ âm do cộng đồng sử dụng ngôn ngữ quy ước mà thành. Những âm vị chuẩn sẽ được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ đó chấp nhận và sử dụng. Vì thế âm vị thể hiện rõ đặc thù của ngôn ngữ dân tộc.
Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt những âm chuẩn trong xã hội với những âm chuẩn chỉ gắn với một vùng phương ngữ. Tiếng Việt có 14 âm vị nguyên âm.