Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2. Vận dụng QĐSPTT vào tổ chức dạy học học phần “Thực hành tháo, lắp, kiểm tra, sửa chữa các bộ phận của động cơ đốt trong” Thực tập động cơ - Trường CĐCN – Phúc Yên theo QĐSPTT Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÝ LU ẬN 1. Quan điểm sư phạm tương tác 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu về quan hệ tương tác giữa các yếu tố của hoạt động dạy và học đã được đề cập từ rất sớm trong lịch sử giáo dục của nhân loại. Khổng Tử (551 – 479 TCN) hay Socrate (469 – TCN) đã tỏ thái độ hết sức trân trọng đối với người thầy giáo và đề cao vai trò tích cực, chủ động trong học tập của người học khi mô tả hoạt động dạy học.
Các nhà giáo dục Liên Xô như : B. Babanxki,… và các nhà giáo dục Việt Nam như Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Ngọc Quang, Thái Duy Tuyên, Phạm Viết Vượng,… đã đánh giá tính chất nhiều nhân tố trong quá trình dạy học (ba nhân tố : Dạy – Nội dung – Học), khẳng định mối quan hệ qua lại giữa hai yếu tố Dạy và Học. Tuy nhiên, vẫn chưa bao quát hết chức năng và cấu trúc của từng yếu tố, chưa nêu rõ được cơ chế tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học nên chưa có tác dụng phát huy hết tính tích cực, chủ động của NH trong quá trình dạy học. Trong nghiên cứu của mình, những nhà lý luận dạy học đã khẳng định yếu tố môi trường trong cấu trúc quá trình dạy học, theo đó, hệ thống dạy học tối thiểu là sự tương tác của: ND – NH – môi trường đối với tri thức.
Như vậy, trong quá trình dạy học ND không tác động trực tiếp đến NH mà thông qua một yếu tố trung gian đó là tri thức. Trong quá trình dạy học, NH là chủ thể hoạt động, còn kiến thức là đối tượng. Yếu tố môi trường, theo nhóm tác giả này không phải là một yếu tố tĩnh, bất động mà là một thành tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học; môi trường không chỉ ảnh hưởng đến người học mà quan trọng hơn là người học phải thích nghi được với môi trường. Quan điểm này đưa ra được các phương tiện, công cụ để kích thích hứng thú – tình huống dạy học được lựa chọn kỹ lưỡ ng, đặc biệt là cách thức gia tăng sự tương tác, hợp tác giữa dạy và học trong môi trường dạy học để người học thành công.
Do vậy, cấu trúc hoạt động dạy học gồm bốn thành tố theo sơ đồ sau [1] 10 Môi trường ND NH Tri thức Hình 1. Các thành tố cơ bản của quá trình dạy học. Những phân tích này cho thấy các tác giả đã xác nhận các yếu tố cơ bản (hạt nhân) của QĐSPTT là Dạy – Học – Môi trường, chức năng của từng yếu tố và làm rõ các yếu tố trong quá trình dạy học. Hai tác giả Jean-Marc Denommé và Madelenie Roy đã thành công trong việc mô tả yếu tố môi trường một cách cụ thể và trực quan, nhưng lại chưa chỉ rõ bằng cách nào để người dạy phát huy được tác động tích cực của môi trường đến người học và hoạt động học.
Hai tác giả đã chỉ ra các thành phần không thể thiếu trong hoạt động dạy học theo QĐSPTT, đó là sự hứng thú, hợp tác và thành công, tuy nhiên lại chưa đề xuất phươn g tiện cụ thể để thực hiện các định hướng đó trong thực tiễn dạy học. Cơ sở khoa học của quan điểm sư phạm tương tác - Cơ sở tâm lý học : Cơ sở tâm lý học của QĐSPTT dựa trên cấu trúc nhân cách của người học. Quan niệm về cấu trúc nhân cách của QĐSPTT d ựa trên cơ sở đường hướng của Carl Rogers (1968) và Eric Becme (1977). Hai tác giả này tập trung vào người học và người hướng dẫn.
Họ yêu cầu các tác nhân trong QĐSPTT cùng chung sống hài hoà với nhau, có khả năng hiểu được tập tính riêng rẽ của nhau và tạo thuận lợi cho việc phát triển nhân cách của nhau. Cấu trúc nhân cách theo Berne được mô tả bởi sơ đồ như sau: [3] 11 Chuẩn mực+ Muốn cho+ P Truy hại- Cứu- TÔI A Thích nghi+ Tự do+ E Phục tùng- Bất trị- Hình 1. Cấu trúc nhân cách theo Berne. Hệ thống P, trong tôi hoặc ở người khác như hình 1.2 chỉ rõ, có thể là tích cực (+) hoặc tiêu cực (-).
Cái tích cực (chuẩn mực và muốn cho) chỉ ra kết quả của một ảnh hưởng thuận lợi của môi trường, trong khi cái tiêu cực (làm truy hại và cứu), đặc biệt có nguồn gốc từ môi trường đã làm bất lợi cho cá nhân. * Hệ thống P (Bố mẹ): Bố mẹ không ám chỉ quan hệ làm con và không chỉ ra là bố hay mẹ; nó chỉ ra sự tồn tại trong mỗi một chúng ta một phương diện chi phối cách xử sự theo các chuẩn mực. Trong quan hệ với các cá nhân, bố mẹ sinh ra từ môi trường xung quanh theo nghĩa rộng của từ này, có nghĩa là từ tập tục văn hoá, truyền thống chuẩn mực và các giá trị thuộc về lịch sử mà hệ thống đó đã trải qua. Tóm lại đó là quan niệm về thế giới, về cuộc sống mà một cá nhân sống trong đó.
Đó là vị trí cá nhân của bố mẹ trong lịch sử. Hệ thống P là tầm vóc của cái đã trải qua. Đối với người dạy, bất cứ một công việc học nào cũng theo một con đường được tổ chức ăn khớp bảo đảm thành công cho người học, trước một lớp học đông, người dạy phải chú ý hơn đến việc tuân thủ các quy tắc và trở nên chủ đạo hơn trong việc dẫn dắt hoạt động của mình. Người học ở hệ thống P chuẩn mực, tính đến các nguyên lý và các quy tắc tron g hoạt động của mình không phải như một sự bắt buộc mà đúng hơn như những phương tiện thành công hiệu quả trong cuộc sống.
Đó là lý do tại sao người học không thích sự thiếu chính xác và không rõ ràng trong hoạt động của lớp, người học chờ đợi ở việc mà người dạy ra quyết định. * Hệ thống E (trẻ con) : Chỉ cá nhân những lứa tuổi khác nhau xét theo phương 12 diện phát triển tự nhiên, tự do theo kiểu tự phát, phiêu lưu. Hệ này chỉ sự phát triển của cá nhân theo những con đường do cá nhân lựa chọn, có thể đó sẽ là con đường hoàn toàn mới so với hệ thống bố mẹ. Về phương diện sinh học, trẻ con (hệ thống E) trong mỗi cá nhân thường dựa vào phản ứng của khứu não.
Hệ thống E được thấm đầy tình cảm, xúc động và trực giác nó được biểu hiện bằng giọng của lời nói, bằng hành động bắt chước, bằng thái độ hoặc bằng các tập tính tương t ự khác. Đó là hệ thống muốn học mà không cố gắng, thích chơi hơn là làm việc, ít quan tâm tới tương lai. Hệ thống E thường đưa ra các hoạt động gắn liền với vui chơi giải trí và rất thích những cuộc chơi hứng thú. Trong một nghĩa nào đó, đó là hệ thống chấp nhận và đưa ra những cái không dự kiến vào trong cuộc sống của chúng ta.
Theo hệ thống P, người ta nhận ra được những mặt tích cực bên trong hệ thốn g E. Đứa trẻ (+) đã lớn lên trong môi trường xung quanh của những thái độ tích cực và cởi mở: nó có mặt như một đứa trẻ thích nghi và tự do. Ngược lại, người đã được giáo dục dưới uy quyền của một P truy hại hoặc đã sống trong các sự kiện đảo lộn thì sẽ phát triển ở người đó một cách không có ý thức hệ thống E tiêu cực. Bằng việc tuân theo các sự kiện của cuộc sống cũng là một đứa trẻ phục tùng (-), hoặc bởi một sự bướng bỉnh có tính hệ thống, đó là đứa trẻ bất trị (-).
Từ hệ thống E nảy sinh ra trào lưu sư phạm khẳng định học là một trò chơi, bằng cách đồng hoá sự hứng thú vào sự thích thú và bằng cách tin là người học không cần cố gắng gì. * Hệ thống A (người lớn, cái TÔI): Hệ thống này không ám chỉ mỗi cá nhân ở độ tuổi người lớn, nó ám chỉ khả năng phân biệt bắt buộc phải lựa chọn giữa các xu hướng. Điều này khẳng định sự trưởng thành của mỗi cá nhân về ý chí, sự đấu tranh động cơ và do đó nó tương ứng với cái tôi cuả mỗi người. Chính hệ thống A dành ưu thế cho tầm quan trọng của bố mẹ và tầm quan trọn g của trẻ em bằng cách giải quyết dứt khoát giữa yêu cầu chuẩn mực của P và phóng túng của E.
Cái tôi là hạt nhân chính của nhân cách, nó hoạt động như người trọng tài giữa hệ thống P và E bằng cách thiết lập một sự cân đối giữa hai lực lượng này. Hệ thống A phối hợp các cách thức hoạt động của cá nhân theo quyết định của trọng tài. Cái Tôi tạo nên một sự khác nhau giữa từng người và nó duy trì các mối quan hệ mang tính cách giữa các cá nhân, vì thế Berne đã gọi hệ thống A với tên Tôi và phương diện này được phát triển trong suốt cuộc đời của cá nhân. 13 Theo QĐSPTT, ba hệ thống nêu trên phải được đánh giá ngang nhau.
Mỗi h ệ thống được thể hiện trong những tình huống được ưu tiên và tạo ra những sắc thái đa dạng của nhân cách. - Cơ sở giáo dục học : Theo QĐSPTT, người dạy với vai trò là người hướng dẫn, xác định kiến thức mới cần phải thu lượ m, người học với vai trò là người thợ chính của việc học, họ cố gắng để gặt hái được tri thức được quy định bởi chương trình nội dung. Trong suốt quá trình học, người dạy lo lắng quan tâm đánh giá bước đi của người học và đánh giá kết quả của người học với mục đích thu thập những thông tin phản hồi từ người học để đưa ra những điều chỉnh đúng đắn hoặc thực hiện một việc học khác. Vì vậy, việc xây dựng kế hoạch đối với người dạy có nghĩa là vạch ra những mục tiêu học và đánh giá kết quả của người học.
Người dạy trong QĐSPTT là người lập kế hoạch và là người hướng dẫn. Người dạy có trách nhiệm xác định mục tiêu phải đạt và đánh giá người học có đạt được hay không.