Luận Án Tiến Sĩ Về Vận Động Chính Sách Công Ở Anh, Pháp, Mỹ Và Bài Học Cho Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích chính trị học vận động chính sách công ở anh pháp mỹ và những gợi mở đối với việt nam, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

166
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

0.2. Nhóm công trình nghiên cứu về vận động hành lang, vận động chính sách công ở Anh, Pháp, Mỹ

0.3. Nhóm công trình nghiên cứu về vận động hành lang, vận động chính sách công ở Việt Nam

0.4. Đánh giá những công trình nghiên cứu

0.5. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH CÔNG

0.5.1. Khái niệm và cơ sở vận đông chính sách công

0.5.2. Mục đích và sự cần thiết vận động chính sách công

0.5.3. Chủ thể, đối tượng và phương thức vận động chính sách công

0.5.4. Quy trình vận động chính sách công

0.6. VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH CÔNG Ở ANH, PHÁP, MỸ

0.6.1. Pháp luật về vận động chính sách ở Anh, Pháp, Mỹ

0.6.2. Chủ thể và đối tượng của vận động chính sách công ở Anh, Pháp, Mỹ

0.6.3. Quy mô, tài chính cho vận động chính sách công

0.6.4. Phương thức, phương tiện vận động chính sách công

0.6.5. Một số nhận xét về vận động chính sách ở Anh, Pháp, Mỹ

0.7. MỘT SỐ VẤN ĐỀ GỢI MỞ VỚI VIỆT NAM

0.7.1. Quan niệm về vận động chính sách công ở Việt Nam hiện nay

0.7.2. Biểu hiện vận động chính sách công ở Việt Nam

0.7.3. Điều kiện, thách thức và xu hướng phát triển vận động chính sách ở Việt Nam thời gian tới

0.7.4. Một số kiến nghị đối với Nhà nước nhằm ứng xử hợp lý với vận động chính sách công ở Việt Nam hiện nay

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1. NHÓM CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VẬN ĐỘNG HÀNH LANG, VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH CÔNG Ở ANH, PHÁP, MỸ

1.1.1. Những công trình nghiên cứu về vấn đề lý luận

Tóm tắt

I. Tổng quan về vận động chính sách công

Vận động chính sách công (chính sách công) là một hoạt động quan trọng trong việc hình thành và thực hiện các quyết định chính trị. Hoạt động này không chỉ diễn ra ở các nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ mà còn đang dần trở nên phổ biến ở Việt Nam. Vận động chính sách công được hiểu là nỗ lực của cá nhân hoặc tổ chức nhằm thuyết phục các cơ quan nhà nước ban hành hoặc sửa đổi chính sách vì lợi ích của họ hoặc cộng đồng. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu và áp dụng các mô hình vận động chính sách công từ các quốc gia khác vào thực tiễn Việt Nam. Theo tác giả, việc nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao chất lượng chính sách mà còn tạo ra một môi trường chính trị dân chủ hơn.

1.1. Khái niệm và cơ sở lý luận

Khái niệm về vận động chính sách công đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập. Theo đó, vận động chính sách công không chỉ là việc tác động đến quyết định của nhà nước mà còn là quá trình tương tác giữa các nhóm lợi ích và các cơ quan nhà nước. Các nghiên cứu cho thấy rằng, ở những quốc gia có khung pháp lý rõ ràng cho hoạt động này, chất lượng chính sách công thường cao hơn. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc xây dựng một hệ thống pháp lý phù hợp để hỗ trợ cho hoạt động vận động chính sách công tại Việt Nam.

1.2. Mục đích và sự cần thiết của vận động chính sách công

Mục đích chính của vận động chính sách công là nhằm đảm bảo rằng các quyết định chính trị phản ánh đúng nhu cầu và lợi ích của cộng đồng. Sự cần thiết của hoạt động này càng trở nên rõ ràng trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế. Việc học hỏi từ kinh nghiệm của các nước như Anh, Pháp, Mỹ sẽ giúp Việt Nam xây dựng một hệ thống chính sách công hiệu quả hơn. Theo tác giả, việc áp dụng các mô hình vận động chính sách công từ các quốc gia phát triển sẽ giúp Việt Nam cải thiện quy trình hoạch định chính sách, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

II. Vận động chính sách công ở Anh Pháp Mỹ

Các quốc gia như Anh, Pháp, Mỹ đã có những mô hình vận động chính sách công rất phát triển. Ở Anh, hoạt động này được quy định rõ ràng trong pháp luật, cho phép các nhóm lợi ích tham gia vào quá trình hoạch định chính sách. Tương tự, ở Pháp và Mỹ, các nhóm lợi ích cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình chính sách công. Các nghiên cứu cho thấy rằng, sự tham gia của các nhóm này không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch mà còn đảm bảo rằng các quyết định chính trị phản ánh đúng nhu cầu của xã hội. Điều này cho thấy rằng, việc xây dựng một khung pháp lý cho hoạt động vận động chính sách công là rất cần thiết.

2.1. Pháp luật về vận động chính sách

Pháp luật về vận động chính sách ở Anh, Pháp, Mỹ đã được xây dựng một cách chặt chẽ, tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích tham gia vào quá trình hoạch định chính sách. Ở Anh, các quy định về vận động chính sách rất rõ ràng, giúp các nhóm lợi ích có thể dễ dàng tiếp cận các nhà hoạch định chính sách. Tương tự, ở Pháp và Mỹ, các quy định này cũng được thiết lập nhằm đảm bảo rằng các quyết định chính trị được đưa ra dựa trên sự tham gia của nhiều bên liên quan. Điều này cho thấy rằng, việc xây dựng một khung pháp lý cho hoạt động vận động chính sách công tại Việt Nam là rất cần thiết.

2.2. Chủ thể và đối tượng của vận động chính sách

Chủ thể của vận động chính sách công ở Anh, Pháp, Mỹ chủ yếu là các nhóm lợi ích, tổ chức phi chính phủ và các cá nhân có ảnh hưởng. Các nhóm này thường có sự tổ chức chặt chẽ và có khả năng tác động lớn đến quyết định của các cơ quan nhà nước. Điều này cho thấy rằng, việc xây dựng một hệ thống vận động chính sách công tại Việt Nam cần phải chú trọng đến việc hình thành các nhóm lợi ích có tổ chức, từ đó tạo ra một môi trường chính trị dân chủ hơn.

III. Một số vấn đề gợi mở với Việt Nam

Việt Nam hiện đang trong quá trình chuyển mình mạnh mẽ, việc áp dụng các mô hình vận động chính sách công từ Anh, Pháp, Mỹ là rất cần thiết. Các nghiên cứu cho thấy rằng, việc xây dựng một khung pháp lý cho hoạt động này sẽ giúp nâng cao chất lượng chính sách công. Đồng thời, việc khuyến khích sự tham gia của các nhóm lợi ích cũng sẽ tạo ra một môi trường chính trị minh bạch hơn. Tác giả nhấn mạnh rằng, việc học hỏi từ kinh nghiệm của các nước phát triển sẽ giúp Việt Nam cải thiện quy trình hoạch định chính sách, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

3.1. Quan niệm về vận động chính sách công ở Việt Nam

Hiện nay, quan niệm về vận động chính sách công ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều người vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động này trong việc hình thành chính sách. Do đó, việc nâng cao nhận thức về vận động chính sách công là rất cần thiết. Tác giả cho rằng, việc tổ chức các hội thảo, tọa đàm về chủ đề này sẽ giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò của vận động chính sách công trong đời sống chính trị.

3.2. Kiến nghị đối với Nhà nước

Để ứng xử hợp lý với vận động chính sách công, Nhà nước cần xây dựng một khung pháp lý rõ ràng cho hoạt động này. Đồng thời, cần khuyến khích sự tham gia của các nhóm lợi ích trong quá trình hoạch định chính sách. Tác giả cũng đề xuất việc tổ chức các diễn đàn để các nhóm lợi ích có thể trình bày quan điểm của mình, từ đó tạo ra một môi trường chính trị dân chủ hơn. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng chính sách công và đảm bảo rằng các quyết định chính trị phản ánh đúng nhu cầu của xã hội.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. NHÓM CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VẬN ĐỘNG HÀNH LANG, VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH CÔNG Ở ANH, PHÁP, MỸ 1. Những công trình nghiên cứu về vấn đề lý luận Trong nhóm công trình này, có những vấn đề sau đây đã được bàn đến ở những mức độ khác nhau: Trước hết, quan niệm về chính sách công và VĐHL, VĐCS công. Nhóm này phổ biến với không chỉ các công trình nghiên cứu mà còn hệ thống giáo trình phong phú như: Cuốn “Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 - 2001” của tác giả Lê Vinh Danh (2001); Giáo trình “Hoạch định và phân tích chính sách công” (2006) của tác giả Phan Ngọc Tú; Giáo trình “Khoa học chính sách công” (2008) của Khoa chính trị học, Học viện Báo chí và tuyên truyền; Tập bài giảng “Chính sách công” (2010) của Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Báo chí và Tuyên truyền; Giáo trình “Chính sách công” (2013) của Khoa Chính sách công, Học viện Chính sách và Phát triển; cuốn sách “Đại cương về chính sách công” của các tác giả Nguyễn hữu Hải và Lê Văn Hòa (2013); cuốn “Chính sách công - Những vấn đề cơ bản” của tác giả Nguyễn Hữu Hải (2016)…Cho đến nay, khoa học chính sách công đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ với những quan niệm phong phú về chính sách công.

Dù xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau thì chính sách công nhìn chung vẫn được quan niệm là những quyết định hành động của các chủ thể quyền lực nhà nước, thể hiện quan điểm, mục tiêu, ưu tiên của nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể trong những điều kiện cụ thể. Vì vậy, dù chưa phải đã hoàn toàn thống nhất nhưng tựu chung lại, các quan niệm đều chỉ ranhững đặc điểm sau đây của chính sách công: 1) CSC là các chính sách do nhà nước ban hành để thực hiện chức năng của nhà nước là quản lý, điều hành kinh tế - xã hội theo những mục tiêu đề ra; 2) CSC là kết quả quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước; 3) CSC là những quyết 9 định hành động, trước hết thể hiện dự định của các nhà hoạch định chính sách nhằm thay đổi hoặc duy trì một hiện trạng nào đó và sau đó là những hành vi thực hiện các dự định đó; 4) CSC tập trung giải quyết vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội theo những mục tiêu xác định; 5) CSC bao gồm những việc nhà nước định làm hoặc không định làm, nghĩa là không phải mọi mục tiêu của chính sách công đều dẫn tới hành động, mà nó có thể là yêu cầu chủ thể không được hành động; 6) CSC tác động đến các đối tượng của chính sách - là những người chịu sự tác động hay điều tiết của chính sách, bao gồm: đối tượng trực tiếp và đối tượng gián tiếp; 7) CSC được nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng hoặc của quốc gia, gắn với việc phân phối và sử dụng các nguồn lực công của nhà nước [27, tr. Về VĐHL và VĐCS công, dù vẫn còn là khái niệm khá mới mẻ nhưng cũng có nhiều công trình đưa ra quan niệm về VĐHL, VĐCS công như “Những cơ sở của nền chính trị Mỹ” của Gary Wassrman (bản dịch của thạc sỹ Đoàn Văn Thắng), Longman - New York, 1997 đã đưa ra khái niệm VĐHL“Vận động hành lang là khi các cá nhân hay nhóm lợi ích gây sức ép lên chính phủ để chính phủ hành động theo ý muốn của họ” [13, tr. Một cách phát biểu khác về VĐHL cũng được đưa ra “VĐHL là hoạt động bao gồm những tiếp xúc cả trực tiếp hay gián tiếp của các nhóm có tổ chức (hoặc đại diện của họ) đến các quan chức hành chính, những nhà hoạch định chính sách, những đại biểu dân cử nhằm gây ảnh hưởng lên quá trình hoạch định và thực hiện các chính sách ấy” [94, tr.8] như trong “Lobbying in Europe” (vận động chính sách ở châu Âu).

Riêng trong “Lobbying in the Dark? The Effects of Policy-Making Transparency on Interest Group Lobbying Strategies in France and Sweden”(Vận động chính sách công trong “bóng tối”? Những ảnh hưởng của môi trường hoạch định chính sách minh bạch lên chiến lược vận động chính sách của các nhóm lợi ích ở Pháp và Thụy Điển), tác giả xuất phát từ kết luận của một nghiên cứu trước đó rằng VĐHL có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và một trong số những hình thức quan trọng nhất là “VĐHL thông tin” (informational lobbying) được hiểu là việc “thuyết phục các nhà hoạch định chính sách để có những hành động cụ thể thông 10 qua những điều khoản có tính chiến lược về thông tin nhằm gây ảnh hưởng đến các cuộc tranh luận hay thông qua chính sách” [94, tr. Theo bài viết “Contracts: Illegality: Lobbying” đăng trên California Law Review thì tạiKhoản 35 điều IV, Hiến pháp bang California lại đưa ra quan điểm VĐHL là việc tìm cách “gây ảnh hưởng đến việc bỏ phiếu cho một thành viên của nghị viện bằng cách hối hộ, hứa tặng quà, đe dọa hoặc những cách thức không trung thực khác” [56, tr. Điều 89 của Luật Hình sự bang này lại coi VĐCS là một loại tội danh giống như bất kỳ một tội danh nào khác và đề xuất mức phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm với hoạt động này [56, tr. Thứ hai là các công trình bàn đến chủ thể của VĐCS.“Những cơ sở của nền chính trị Mỹ” của Gary Wassrman chỉ ra những chủ thể của VĐHL là “các cựu Nghị sĩ hoặc những người đã từng làm trong ngành hành pháp, họ là những người có kiến thức trong từng lĩnh vực nhất định, có kinh nghiệm chính trị và bản thân cá nhân có quan hệ với những người hoạch định chính sách” [13, tr.

Cũng nói về VĐCS công ở Mỹ, “Societal Complexity and Interest-Group Lobbying in the American States” (Sự phức tạp của xã hội và VĐCS của các nhóm lợi ích ở các bang ở Mỹ) coi nhóm lợi ích là chủ thể chính của VĐCS và phân chia các nhóm lợi ích tham gia vào VĐCS ở Mỹ thành 15 nhóm lớn dựa trên lợi ích mà các nhóm này đại diện bao gồmnhóm sản xuất nông nghiệp; nhóm hoạt động văn hóa; nhóm phát triển kinh tế; nhóm tài chính, bảo hiểm và bất động sản; sản xuất công nghiệp; các cơ quan chính phủ; sản xuất khoáng sản; các nhóm hỗ trợ công dân và phi lợi nhuận; nhóm theo ngành nghề; nhóm đại diện cho ngành bán lẻ và bán buôn; nhóm những người có cùng hệ tư tưởng và những người độc thân; giao thông vận tải; nghiệp đoàn và các tổ chức tương tự; nhóm dịch vụ công; và các nhóm không xác định được [75, tr. Thống nhất quan điểm cho rằng các nhóm lợi ích là chủ thể chủ yếu tham gia VĐCS nhưng từ thực tiễn châu Âu, tác giả của “Lobbying in Europe” đưa ra nhận định các nhóm lớn như các tập đoàn thường chi nhiều tiền cho VĐCS hơn và cũng có nhiều cơ hội tiếp cận các nhà hoạch định chính sách hơn các công ty nhỏ [94, tr. 11 “Lobbying by the Insiders: Parallels of State Agencies and Interest Groups” (1988) (VĐCS từ bên trong: so sánh giữa vận động của các cơ quan nhà nước và các nhóm lợi ích) của Glenn Abney đề cập đến một phương diện khác của VĐHL là VĐHL của chính các chủ thể trong bộ máy nhà nước và chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt cơ bản giữa các cơ quan nhà nước và các nhóm lợi ích với tư cách là những chủ thể tiến hành VĐCS và đưa ra mười luận điểm đối với VĐCS của các cơ quan nhà nước trong so sánh với các nhóm lợi ích. Như vậy, công trình này nhấn mạnh chính các cơ quan hành pháp cũng là một chủ thể quan trọng tiến hành VĐCS một cách hiệu quả với những lợi thế đặc biệt mà các nhóm lợi ích bên ngoài không thể có được.

“Vận động hành lang của các hiệp hội kinh tế của các nước trên thế giới, thực trạng và xu hướng phát triển tại Việt Nam” của tác giả Trần Hữu Quỳnh (2009) đề cập đến ba vấn đề chính coi các hiệp hội kinh tế là một trong những chủ thể quan trọng và tham gia có hiệu quả vào quá trình VĐCS. “Vận động hành lang trong đời sống chính trị các nước phương Tây” (2010) của PGS. Lưu Văn An phân tích vai trò của VĐHL trong nền chính trị các nước phương Tây dựa trên sự phân loại các chủ thể tiến hành vận động bao gồm các nhóm lợi ích, các đảng chính trị, các cơ quan nhà nước và các công dân. Qua đó phản ánh sự phong phú, đa dạng về của chủ thể VĐCS.

Bài viết “Về các công ty xuyên quốc gia và ảnh hưởng của chúng đối với quyền lực nhà nước”, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, tháng 3 năm 2014 nhấn mạnh các công ty xuyên quốc gia có thể gây áp lực lên các chính sách của các nước và vì vậy có thể coi các công ty xuyên quốc gia là một trong những chủ thể tiến hành VĐCS. - Bài viết “Tổ chức nghiên cứu, tư vấn chính sách trong lĩnh vực chính sách công ở một số nước trên thế giới” của tác giả Nguyễn Trọng Bình đăng trên tạp chí Tổ chức nhà nước số 2 năm 2015 phân tích vai trò của các tổ chức nghiên cứu, tư vấn chính sách như một chủ thể quan trọng góp phần nâng cao năng lực chính sách công của các chính phủ. Sự phát triển của các tổ chức tư vấn và việc 12 phát huy đầy đủ chức năng của chúng có tác dụng quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa quản trị công và nâng cao chất lượng thể chế và chính sách. Cũng nhấn mạnh các tổ chức tư vấn như là chủ thể ngày càng tích cực VĐCS, bài viết “Vai trò của các think tank trong hoạch định chính sách - kinh nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Trần Mai Hùng đăng trên tạp chí Quản lý nhà nước số 229, tháng 2 năm 2015 phân tích vai trò của think tank trong hoạch định chính sách thông qua nghiên cứu các trường hợp think tank ở Mỹ và ở Trung Quốc.

Về cơ bản tác giả khẳng định các think tank là nơi tập hợp những chuyên gia hàng đầu về tư duy chiến lược, đóng góp cho việc hoạch định chính sách của chính phủ các nước. Từ đó cũng đề xuất Việt Nam nên có cơ chế để tạo dựng và phát huy vai trò của các nhóm think tank trong đời sống chính trị nói chung và trong xây dựng chính sách nói riêng. Thứ ba là các công trình đề cập đến đối tượng của VĐCS “Lobbying Legislatures” (VĐCS đối với cơ quan lập pháp) của Morten Bennedsen and Sven E.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Vận Động Chính Sách Công: Bài Học Từ Anh, Pháp, Mỹ Cho Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức vận động chính sách công tại các quốc gia phát triển, từ đó rút ra những bài học quý giá cho Việt Nam. Tác giả phân tích các mô hình thành công và những thách thức mà các nước này đã gặp phải, đồng thời đề xuất các giải pháp phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Độc giả sẽ nhận thấy được tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp hiệu quả trong việc xây dựng và thực hiện chính sách công, từ đó nâng cao chất lượng quản lý nhà nước.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ sử dụng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân thị xã hoài nhơn tỉnh bình định, nơi nghiên cứu về hiệu quả sử dụng công chức trong quản lý nhà nước. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ tác động của đào tạo và thông tin phản hồi đến kết quả làm việc của công chức công tác tại ủy ban nhân dân huyện nhà bè tp hcm sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của đào tạo trong việc nâng cao hiệu quả công việc của công chức. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách hợp tác quốc tế tại thanh tra chính phủ cũng là một nguồn tài liệu hữu ích để tìm hiểu về chính sách công trong bối cảnh hợp tác quốc tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh khác nhau của chính sách công tại Việt Nam.