Luận văn nâng cao vai trò Quốc hội giám sát điều ước quốc tế Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vai trò giám sát của Quốc hội trong ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, phân tích kinh nghiệm nước ngoài và đề xuất giải pháp cho Việt Nam.

Chuyên ngành

Luật quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Vai trò Quốc hội giám sát điều ước quốc tế Việt Nam Tổng quan pháp lý

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, vai trò Quốc hội giám sát điều ước quốc tế Việt Nam ngày càng trở nên then chốt. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến, lập pháp và giám sát tối cao. Theo Hiến pháp năm 2013, Quốc hội có thẩm quyền phê chuẩn, quyết định việc gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế quan trọng. Việc giám sát hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế không chỉ đảm bảo tính minh bạch, pháp lý mà còn bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc. Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế năm 2005 (sửa đổi năm 2016) đã tạo hành lang pháp lý cụ thể cho vai trò này. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy cơ chế giám sát vẫn còn nhiều khoảng trống. Theo luận văn thạc sĩ của Ngô Thùy Linh (2014), Quốc hội chưa thực sự phát huy đầy đủ vai trò giám sát trong toàn bộ chu trình điều ước quốc tế – từ đàm phán, ký kết đến thực thi. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện cơ chế pháp lý và nâng cao năng lực giám sát của Quốc hội.

1.1. Khái niệm và cơ sở pháp lý về giám sát điều ước quốc tế

Giám sát điều ước quốc tế là hoạt động của Quốc hội nhằm kiểm tra, đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp và hiệu quả của quá trình ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước. Cơ sở pháp lý bao gồm Hiến pháp 2013, Luật Điều ước quốc tế 2005 (sửa đổi 2016), và các văn bản hướng dẫn. Đặc biệt, Điều 70 Hiến pháp quy định rõ Quốc hội quyết định việc phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, quyền con người, và các lĩnh vực then chốt. Đây là nền tảng pháp lý cho vai trò giám sát tối cao của Quốc hội trong lĩnh vực đối ngoại.

1.2. Tầm quan trọng của giám sát điều ước quốc tế trong hội nhập

Giám sát điều ước quốc tế giúp đảm bảo các cam kết quốc tế không xung đột với luật pháp trong nước, bảo vệ lợi ích quốc gia và quyền lợi người dân. Trong bối cảnh Việt Nam đã tham gia hơn 1.000 điều ước quốc tế, bao gồm các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, việc giám sát chặt chẽ là cần thiết để tránh rủi ro pháp lý và thực thi hiệu quả. Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ mở ra cơ hội mà còn đặt ra thách thức về chủ quyền lập pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Do đó, giám sát điều ước quốc tế là công cụ thiết yếu để cân bằng giữa cam kết quốc tế và lợi ích nội địa.

II. Thách thức trong vai trò Quốc hội giám sát điều ước quốc tế Việt Nam

Mặc dù khung pháp lý đã được xây dựng, vai trò Quốc hội giám sát điều ước quốc tế Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những hạn chế nổi bật là thiếu cơ chế giám sát thường xuyên và toàn diện. Quốc hội chủ yếu tham gia ở giai đoạn phê chuẩn, trong khi quá trình đàm phán và thực thi thường do Chính phủ chủ trì mà không có sự giám sát liên tục. Theo Ngô Thùy Linh (2014), pháp luật hiện hành chưa quy định rõ quyền yêu cầu báo cáo, chất vấn hoặc tổ chức phiên giám sát chuyên đề về điều ước quốc tế. Ngoài ra, năng lực chuyên môn của đại biểu Quốc hội về luật quốc tế còn hạn chế, dẫn đến việc xem xét, đánh giá điều ước chưa sâu sát. Sự phối hợp giữa các cơ quan như Ủy ban Đối ngoại, Ủy ban Pháp luật và các cơ quan hành pháp cũng chưa hiệu quả. Điều này làm giảm tính chủ động và hiệu lực giám sát. Một thách thức khác là thiếu minh bạch trong cung cấp thông tin: nhiều nội dung đàm phán điều ước không được công khai đầy đủ, khiến Quốc hội khó đưa ra quyết định sáng suốt. Những bất cập này làm suy giảm hiệu quả giám sát điều ước quốc tế và ảnh hưởng đến chất lượng hội nhập.

2.1. Hạn chế về cơ chế pháp lý và thực thi

Luật Điều ước quốc tế chưa quy định rõ trình tự, thủ tục giám sát sau phê chuẩn. Quốc hội không có quyền yêu cầu Chính phủ báo cáo định kỳ về tình hình thực hiện điều ước. Cơ chế chất vấn, giải trình về điều ước quốc tế cũng chưa được áp dụng thường xuyên. Điều này khiến hoạt động giám sát mang tính hình thức, thiếu tính răn đe và điều chỉnh.

2.2. Năng lực chuyên môn và minh bạch thông tin

Nhiều đại biểu Quốc hội thiếu kiến thức chuyên sâu về luật điều ước quốc tế và các lĩnh vực kỹ thuật như thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ. Đồng thời, thông tin về nội dung đàm phán, đánh giá tác động thường không được cung cấp đầy đủ hoặc kịp thời. Điều này cản trở khả năng phân tích và ra quyết định chính xác của Quốc hội.

III. Kinh nghiệm quốc tế nâng cao vai trò Quốc hội giám sát điều ước quốc tế

Nhiều quốc gia đã xây dựng cơ chế giám sát điều ước quốc tế hiệu quả, cung cấp bài học quý cho Việt Nam. Kinh nghiệm giám sát của Nghị viện Mỹ cho thấy Quốc hội Mỹ có quyền phê chuẩn điều ước (treaty) với sự đồng thuận của 2/3 Thượng viện. Ngoài ra, các ủy ban chuyên trách thường xuyên tổ chức phiên điều trần, yêu cầu báo cáo từ Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan. Nghị viện Pháp cũng yêu cầu Chính phủ thông báo trước về mọi kế hoạch đàm phán điều ước, và Quốc hội có quyền yêu cầu tạm dừng nếu thấy cần thiết. Tại Trung Quốc, Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (Quốc hội) phê chuẩn các điều ước quan trọng, đồng thời có cơ chế giám sát sau phê chuẩn thông qua báo cáo định kỳ. Điểm chung của các mô hình này là: (1) quy định rõ quyền giám sát trong toàn bộ chu trình điều ước; (2) thiết lập ủy ban chuyên trách về đối ngoại và điều ước quốc tế; (3) đảm bảo minh bạch thông tin và tham vấn công chúng. Những kinh nghiệm nước ngoài này cho thấy việc nâng cao vai trò Quốc hội giám sát điều ước quốc tế Việt Nam không chỉ khả thi mà còn cần thiết để hội nhập bền vững.

3.1. Mô hình giám sát của Quốc hội Mỹ và Pháp

Tại Mỹ, Thượng viện giữ vai trò then chốt trong phê chuẩn điều ước. Ủy ban Đối ngoại tổ chức phiên điều trần công khai, mời chuyên gia và đại diện cơ quan hành pháp tham dự. Ở Pháp, Quốc hội được thông báo trước 15 ngày về kế hoạch đàm phán và có quyền yêu cầu Chính phủ cung cấp tài liệu. Cơ chế này giúp Quốc hội chủ động tham gia từ đầu, không chỉ ở giai đoạn cuối.

3.2. Bài học từ Trung Quốc và các nước ASEAN

Trung Quốc áp dụng cơ chế giám sát kép: phê chuẩn trước và báo cáo sau. Một số nước ASEAN như Thái Lan, Philippines cũng thành lập tiểu ban chuyên trách về điều ước quốc tế trong Quốc hội. Các mô hình này nhấn mạnh vai trò của ủy ban chuyên tráchbáo cáo định kỳ – hai yếu tố còn thiếu trong hệ thống Việt Nam.

IV. Phương pháp nâng cao vai trò Quốc hội giám sát điều ước quốc tế Việt Nam

Để phát huy đầy đủ vai trò Quốc hội giám sát điều ước quốc tế Việt Nam, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần sửa đổi Luật Điều ước quốc tế để bổ sung quy định về giám sát sau phê chuẩn, bao gồm nghĩa vụ báo cáo định kỳ của Chính phủ và quyền yêu cầu giải trình của Quốc hội. Thứ hai, nên thành lập Ủy ban Giám sát Điều ước Quốc tế trực thuộc Quốc hội, gồm các chuyên gia về luật quốc tế, kinh tế, đối ngoại. Ủy ban này sẽ tham gia từ giai đoạn đàm phán, đánh giá tác động, đến giám sát thực thi. Thứ ba, cần xây dựng cơ chế minh bạch thông tin: tất cả dự thảo điều ước quan trọng phải được công khai để lấy ý kiến chuyên gia và người dân trước khi trình Quốc hội. Cuối cùng, tăng cường đào tạo năng lực cho đại biểu Quốc hội về luật điều ước quốc tế và kỹ năng giám sát chuyên sâu. Những phương pháp này không chỉ phù hợp với thông lệ quốc tế mà còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn hội nhập của Việt Nam trong giai đoạn mới.

4.1. Hoàn thiện khung pháp lý giám sát điều ước quốc tế

Cần sửa đổi Luật Điều ước quốc tế để quy định rõ quyền giám sát toàn diện của Quốc hội, bao gồm quyền yêu cầu báo cáo, chất vấn, tổ chức giám sát chuyên đề và đánh giá độc lập. Đồng thời, cần luật hóa nghĩa vụ minh bạch thông tin của cơ quan đề xuất đàm phán.

4.2. Thành lập cơ quan chuyên trách và nâng cao năng lực

Thành lập Ủy ban Giám sát Điều ước Quốc tế hoặc tăng cường vai trò của Ủy ban Đối ngoại hiện nay. Tổ chức các khóa đào tạo định kỳ cho đại biểu Quốc hội về luật quốc tế, đàm phán điều ước và đánh giá tác động. Hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học để cung cấp phân tích chuyên sâu.

V. Ứng dụng thực tiễn Hiệu quả giám sát điều ước quốc tế tại Việt Nam

Thực tiễn cho thấy, khi Quốc hội chủ động giám sát, hiệu quả thực thi điều ước quốc tế được nâng cao rõ rệt. Ví dụ, trong quá trình xem xét Hiệp định EVFTA, Quốc hội đã yêu cầu Chính phủ cung cấp báo cáo đánh giá tác động chi tiết, tổ chức lấy ý kiến các hiệp hội ngành nghề và chuyên gia. Nhờ đó, nhiều điều chỉnh được đưa ra để bảo vệ nông dân và doanh nghiệp nhỏ. Ngược lại, với một số điều ước kỹ thuật như thỏa thuận hàng không song phương, do thiếu giám sát, việc thực thi gặp khó khăn do xung đột với luật hàng không dân dụng. Theo Ngô Thùy Linh (2014), những trường hợp Quốc hội tham gia sâu từ đầu thường có tỷ lệ thực thi cao và ít tranh chấp. Điều này chứng minh rằng giám sát điều ước quốc tế không chỉ là quyền mà còn là công cụ nâng cao hiệu lực pháp luật. Trong tương lai, với các hiệp định số, chuyển đổi số và biến đổi khí hậu, vai trò này càng trở nên thiết yếu.

5.1. Thành công từ giám sát EVFTA và CPTPP

Quốc hội đã tổ chức nhiều phiên thảo luận chuyên đề, yêu cầu Chính phủ giải trình về cam kết lao động, môi trường và sở hữu trí tuệ. Nhờ giám sát chặt, các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành kịp thời, giảm rủi ro vi phạm cam kết quốc tế.

5.2. Hạn chế trong thực thi điều ước kỹ thuật

Nhiều điều ước về hàng hải, hàng không, y tế chưa được giám sát đầy đủ, dẫn đến tình trạng văn bản trong nước chưa cập nhật, gây khó khăn cho doanh nghiệp và công dân. Điều này cho thấy cần mở rộng phạm vi giám sát sang cả điều ước không thuộc diện phê chuẩn.

VI. Tương lai của vai trò Quốc hội giám sát điều ước quốc tế Việt Nam

Trong thập kỷ tới, vai trò Quốc hội giám sát điều ước quốc tế Việt Nam sẽ ngày càng mở rộng và chuyên sâu. Xu hướng hội nhập toàn diện – từ kinh tế, số, đến khí hậu và nhân quyền – đòi hỏi Quốc hội phải chuyển từ giám sát thụ động sang chủ động, dự báo rủi ro và đánh giá chiến lược. Các điều ước quốc tế thế hệ mới thường có điều khoản ràng buộc mạnh về thực thi, do đó, giám sát nội địa trở thành yếu tố then chốt để tránh tranh chấp quốc tế. Đồng thời, với sự phát triển của công nghệ, Quốc hội có thể ứng dụng hệ thống số để theo dõi, đánh giá hiệu quả điều ước theo thời gian thực. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu điều ước quốc tế và công khai minh bạch sẽ tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan hành pháp. Cuối cùng, để đảm bảo tính bền vững, cần lồng ghép hoạt động giám sát điều ước vào chương trình nghị sự thường xuyên của Quốc hội, biến giám sát điều ước quốc tế thành chuẩn mực pháp lý, không chỉ là ngoại lệ.

6.1. Xu hướng điều ước quốc tế thế hệ mới và thách thức

Các hiệp định về chuyển đổi số, kinh tế xanh, và nhân quyền đòi hỏi cam kết sâu rộng và cơ chế thực thi nghiêm ngặt. Quốc hội cần nâng cao năng lực đánh giá rủi ro và tác động dài hạn để bảo vệ lợi ích quốc gia.

6.2. Ứng dụng công nghệ và minh bạch hóa giám sát

Xây dựng cổng thông tin điều ước quốc tế công khai, tích hợp báo cáo thực thi và phản hồi từ doanh nghiệp, người dân. Ứng dụng AI để phân tích xu hướng vi phạm và đề xuất điều chỉnh chính sách – đây là hướng đi tất yếu cho giám sát điều ước quốc tế hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn việc nâng cao vai trò của quốc hội trong giám sát hoạt động ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế ở việt nam và kinh nghiệm nước ngoài

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 : NHỮNG V ĐỂ LÝ LUẬN V' VAI TRO CUA QUOC HỘI TRONG GIÁM HOẠT ĐỘNG KÝ KẾ ,„ GIÁ NHẬP VÀ THỰC IIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TÉ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm về vai trỏ của Quốc hội trong giảm sát hoạt ding ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tẾ. Vai trò giảm sát tối cao của Quốc hội. Vai trò giảm sát của Quốc hội trong hoạt động kỳ kết.

gia nhập và thực biện Điều ước quốc lễ ở Việt Nam. Quy định của pháp luật về vai trò giám sát của Quốc hội trong hoạt động ký kết, gia nhập vả thực hiện Điều ước quốc tế ở Việt Nam. - 27 CHƯƠNG 2 : KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIÁ VỀ HOẠT DONG GIAM SAT CUA QUOC HOI TRONG QUA TRINH KY KET, GIA NIAP VA THC TEN DIEU UGC QUOC TE VA TIC TIEN HOAT BONG GIAM SAT CUA QUOC HOT VIET NAM. Kinh nghiệm của một số Quốc gia về hoạt động giám sát của Quốc hội trong quá trình ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế - 4I 2.1 Quy định của pháp luật một số Quốc gia về hoạt động giám sát của Quốc hội.

Chức năng giám sát của Quốc hội 41 3. Cách thức hến hành hoạt động giám sát của Quốc hội.2 Kinh nghiệm của một số Quốc gia về hoạt động giám sát của Quốc hội trong quá trỉnh ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế - 48 2. Kinh nghiệm giảm sát của Nghị viện Mỹ. „48 một dễ tài nhánh thuộc đề tài trọng diễm Quốc gia “Luan cứ khoa học dé xay dựng, và hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Quốc hội” do Văn phòng Quốc hội chủ trì được triển khai nghiên cứu từ tháng 10 năm 2000.

Để tải này được nghiên cứu trong bểi cánh Luật Hoạt động giảm sát của Quốc hội chưa ra đời. Tgoài ra, có một số bài viết, bài phát biếu về hoạt động giảm sát của Quốc hội như - “Ký yếu Hội thảo quả trình hình thành, phát triển và vai trò của Quốc hội trang sự nghiệp đối mới”, TS Lê Hữu Thế, Một số suy nghĩ về việc nâng cao chất lượng, hiệu quê hoại động giám sát của Quốc hội, Văn phòng Quốc lội, Hà Nội, 2001, trang 13. - Kỹ yêu hội thảo về hoạt đông giám sát của Quắc hội, GS.TS Trần Ngọc Đường, Quyển giám sát tối cao và một số suy ngkữ về việc nâng cao hiệu lực và hiệu. quả thực hiện quyển giám sát tỏi cao của Quốc hội.

- Quyển giám sát tôi cao của Quốc hội và quyền giám sát của cá cơ quan của Quốc hội - PGS. TS Nguyễn Ngọc Đường. - Quốc hội Việt Nam, những lý luận và thực tiễn - PGS. T8 Nguyễn Ngọc Đường - Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội PGS.

TS Truong Th) Hing Tia. - Hoạt đồng giám sát của Quốc hội các nước và ớ nước ta — TS Lê Thanh Vân. - Bàn về thực thí Điều ước quốc tế ở Việt Nam — PGS. TS Hoàng Ngọc Giao.

- Ký kết và thực hiện Diều tước quốc tế ở Việt Nam — TS Lê Văn Binh - Hoan thiện pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện Điều ưóc quốc tế trong điều kiện hội nhập quỏc tế - cơ sở lý luận và thực tiễn — TS Nguyễn Thị Thuận. Với những mức độ vả cách tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu hiện. xay chưa gó nhiêu công trình đi sâu vào nghiên cứn vai trỏ của Quốc hội trơng giảm sat hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế ở Việt Nam. sẽ là một trong những nghiên cửu đầu tiên về vấn đẻ này.

Việc nghiên cứu vai trò của Quốc hội Việt Nam trong giám sắt hoạt động ký kết, ga nhập và thực hiện. MỤC LỤC Lời cam doan LỜI MỞ ĐẢU. CHƯƠNG 1 : NHỮNG V ĐỂ LÝ LUẬN V' VAI TRO CUA QUOC HỘI TRONG GIÁM HOẠT ĐỘNG KÝ KẾ ,„ GIÁ NHẬP VÀ THỰC IIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TÉ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm về vai trỏ của Quốc hội trong giảm sát hoạt ding ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tẾ.

Vai trò giảm sát tối cao của Quốc hội. Vai trò giảm sát của Quốc hội trong hoạt động kỳ kết. gia nhập và thực biện Điều ước quốc lễ ở Việt Nam. Quy định của pháp luật về vai trò giám sát của Quốc hội trong hoạt động ký kết, gia nhập vả thực hiện Điều ước quốc tế ở Việt Nam.

- 27 CHƯƠNG 2 : KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIÁ VỀ HOẠT DONG GIAM SAT CUA QUOC HOI TRONG QUA TRINH KY KET, GIA NIAP VA THC TEN DIEU UGC QUOC TE VA TIC TIEN HOAT BONG GIAM SAT CUA QUOC HOT VIET NAM. Kinh nghiệm của một số Quốc gia về hoạt động giám sát của Quốc hội trong quá trình ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế - 4I 2.1 Quy định của pháp luật một số Quốc gia về hoạt động giám sát của Quốc hội. Chức năng giám sát của Quốc hội 41 3. Cách thức hến hành hoạt động giám sát của Quốc hội.2 Kinh nghiệm của một số Quốc gia về hoạt động giám sát của Quốc hội trong quá trỉnh ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế - 48 2.

Kinh nghiệm giảm sát của Nghị viện Mỹ. „48 một dễ tài nhánh thuộc đề tài trọng diễm Quốc gia “Luan cứ khoa học dé xay dựng, và hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Quốc hội” do Văn phòng Quốc hội chủ trì được triển khai nghiên cứu từ tháng 10 năm 2000. Để tải này được nghiên cứu trong bểi cánh Luật Hoạt động giảm sát của Quốc hội chưa ra đời. Tgoài ra, có một số bài viết, bài phát biếu về hoạt động giảm sát của Quốc hội như - “Ký yếu Hội thảo quả trình hình thành, phát triển và vai trò của Quốc hội trang sự nghiệp đối mới”, TS Lê Hữu Thế, Một số suy nghĩ về việc nâng cao chất lượng, hiệu quê hoại động giám sát của Quốc hội, Văn phòng Quốc lội, Hà Nội, 2001, trang 13.

- Kỹ yêu hội thảo về hoạt đông giám sát của Quắc hội, GS.TS Trần Ngọc Đường, Quyển giám sát tối cao và một số suy ngkữ về việc nâng cao hiệu lực và hiệu. quả thực hiện quyển giám sát tỏi cao của Quốc hội. - Quyển giám sát tôi cao của Quốc hội và quyền giám sát của cá cơ quan của Quốc hội - PGS. TS Nguyễn Ngọc Đường.

- Quốc hội Việt Nam, những lý luận và thực tiễn - PGS. T8 Nguyễn Ngọc Đường - Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội PGS. TS Truong Th) Hing Tia. - Hoạt đồng giám sát của Quốc hội các nước và ớ nước ta — TS Lê Thanh Vân.

- Bàn về thực thí Điều ước quốc tế ở Việt Nam — PGS. TS Hoàng Ngọc Giao. - Ký kết và thực hiện Diều tước quốc tế ở Việt Nam — TS Lê Văn Binh - Hoan thiện pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện Điều ưóc quốc tế trong điều kiện hội nhập quỏc tế - cơ sở lý luận và thực tiễn — TS Nguyễn Thị Thuận. Với những mức độ vả cách tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu hiện.

xay chưa gó nhiêu công trình đi sâu vào nghiên cứn vai trỏ của Quốc hội trơng giảm sat hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế ở Việt Nam. sẽ là một trong những nghiên cửu đầu tiên về vấn đẻ này. Việc nghiên cứu vai trò của Quốc hội Việt Nam trong giám sắt hoạt động ký kết, ga nhập và thực hiện. LỜI MỞ ĐẦU 1.

Tỉnh cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh quốc tế hiện may, việc giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia ngảy cảng được tăng cường và mở rộng, Hoá mình vào củng sự phát triển chung, của thể giới, hiện nay Việt Nam đã ký kết và tham gia rất nhiều Diễn ưdc quốc tế. Cúc Điều ước quốc lế mà Việt Nam dã kỷ kết và gia nhập rất da dạng thuộc các lĩnh vục quan trọng trong xã hội. Liiện nay, Việt Nam còn rất nhiều điều ước đang có hiệu lực thuộc các lĩnh vực: thương mại, nông nghiệp, công nghiệp, hàng, tiâi, hàng không, đường bộ, đường sắt, lao động, hợp tác nghề cá và phái triển uy sản, du lịch, y tế, tài chính, tín dụng, khuyến khích và báo hộ đầu tư tránh đảnh thuế hai lân, bảo hộ quyền sẻ hữu. Các điều uóc này đã góp phân tăng cường và mở rộng các quau hệ hữu nghị và hợp tác nhiều một, đặc biệt là thúc đẩy rrạnh hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường hợp tác thương mại, thu hút đầu tư cũng như những nguồn lực phát triển chính thức.

Ngày 10/10/2001, Việt Niĩn đã trở thành thành viên chính thúc của Công uớc Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế, Tháng 6/2005, tại kỉ họp thử ?, Quốc hội khoả XI, Quốc hội nước Công hoà xã hội chú nghĩa Việt Nam đã bạn hành T.uật ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế, Đây được coi là một bước tiền của hệ thông, pháp luật Việt Nam đánh dẫu sự quan tâm đổi với việc ký kết, gia nhập và thực hiện Điền ước quốc lế Sau khi Luật kỷ kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế có hiệu lực, số lượng Diễu ước quốc tế mà Việt Nam ký kết và gia nhập có tăng lên đáng kể. Bên cạnh đỏ, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thể giới WTO, môi quan hệ giữa Việt Nam và các nước ngày càng được mở rộng, tăng cường. Một trong những hoạt động của việo mở rộng quan hệ đó là việc ký kết, tham gia, phê chuẩn nhiêu hcm nữa các Điều ước quốc tế. Để tạo đã và cơ sở pháp lý cho các mỗi quan hệ quốc tế nhất là trong lĩnh vục báo vệ chủ quyền của dat nude, hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, việc dam phán, ký kết, gia nhập và thực hiện các Điêu tước quốc tế ngảy cảng được Đảng, và Nhà nước quan tâm Do yêu cảu hội nhập, số lượng các Điều ước quốc tế đã tăng lên dang ké, qua trình quản lý, thống kê hiệu lực của cáo Diễn ước quốc tế cũng như việc giám sát quá trình ký kết, gia nhập và thục hiện Điều óc quốc tế của các cor quan có thấm quyển là rất cần thiết Là một nhả nước trong thời kỳ phát triển, hội nhập chung với thé giới, Việt Nam cân phải làm gì đẻ tăng cường việc thực thi tắt các Diễu ước quốc tế nà mình đã kỷ kết, gia nhập cũng như việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của tước quốc tế, giám sát quả trình ký kết, gia nhập vá thực hiện Điều ước quốc tế của các cơ quan có thắm quyền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ