Chương 1: TONG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Từ nhiều thập niên trở lại đây, Thái Lan trở thành đối tượng thu hút các học giả trong nước nghiên cứu ở những lĩnh vực lớn như lịch sử, chính tri và văn hóa va quan hệ đối ngoại. Khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, việc nghiên cứu về nên kinh tế của các nước trong khu vực được đây mạnh hơn nhằm so sánh và rút ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình quản lý và phát triển kinh tế nước ta.
Trong số đó, Thái Lan, một quốc gia tương đối thành công trong công cuộc phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu, nổi lên như một đối tượng nghiên cứu có sức thu hút mạnh mẽ. Căn cứ vào thực trạng nghiên cứu Thái Lan ở trong nước, có thể tạm chia thành ba nhóm chính là lịch sử - chính trị; kinh tế và quan hệ đối ngoại. Về lịch sử - chính trị Thái Lan Rất nhiều học giả trong nước đã nghiên cứu một cách có hệ thống về lịch sử của Thái Lan. Tiêu biểu như các cuốn: “Thai Lan, một số nét về tình hình kinh tế xã hội chính trị lịch sử” (1988) của Nguyễn Khắc Viện; “Lịch sử Thái Lan” (1994) của Vũ Dương Ninh; và “Lịch sử Thái Lan” (1998) của Phạm Nguyên Long và Nguyễn Tương Lai (chủ biên).
Đây là ba cuốn sách cung cấp những thông tin cơ bản về đất nước, con người, nền văn hóa cũng như quá trình lịch sử và phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan từ thời tiền sử và cho đến hiện đại. Trong các tác pham nay, cac tac gia đã dành nhiều công sức dé trình bày những chuyền biến của nền chính trị. Các kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa lớn, giúp tiếp cận, khai thác và phục dựng bối cảnh của nền chính trị Thái Lan. Không chỉ dừng lại ở nghiên cứu lịch sử đơn thuần, nhiều học giả đã đi sâu nghiên cứu Thái Lan theo chuyên đề về chính trị.
Ở đây, tôi trình bày một số công trình nghiên cứu về chính trị theo diễn trình lịch sử Thái Lan. Trước tiên, dé tìm hiểu ý nghĩa của cuộc chính biến năm 1932 và những tác động của nó đến nền chính trị Thái Lan hiện tại, có thé tham khảo Luận án Tiến sĩ lịch sử “Cách mạng năm 1932 ở Xiêm (Thái Lan): Tính chất và ý nghĩa lịch sử” của Kim Ngọc Thu Trang (Học viện Khoa học xã hội - 2013). Luận án này đã khái quát tiền đề, diễn biến, kết quả của cuộc cách mạng 1932 ở Xiêm; đồng thời phân tích, làm rõ tính chất và ý nghĩa của cuộc cách mạng này; so sánh, đối chiếu với các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu trong những thế kỉ trước, từ đó rút ra những đặc điểm của cuộc cach mạng 1932. Tac giả di đến kết luận rằng, sự chuyền đôi chính trị năm 1932 tại Xiêm là một “cuộc cách mạng” vì nó đã thay thế chế độ quân chủ chuyên chế bang chế độ quân chủ lập hiến, tạo điều kiện cho việc tiễn hành các cải cách theo hướng tư sản, mở ra một thời kỳ phát triển mới của Xiêm.
Viết về những biến động chính trị của Thái Lan trong thập kỷ 1970, trong bài viết “Nhìn lại cuộc nổi dậy của sinh viên Thái Lan tháng 10-1973” (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3 - 1994), Lê Hùng Nam đã tìm hiểu về truyền thống đấu tranh của sinh viên Thái Lan trong thập niên 1970. Nhờ mối liên hệ chặt chẽ và sự giúp đỡ của nhiều tầng lớp nhân dân, sinh viên trở thành lực lượng hùng hậu, góp phần quyết định trong việc lật đồ chế độ độc tai Thanom Kittikachon năm 1973. Nền chính trị Thái Lan tiếp tục được các tác giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu từ khi Thủ tướng Thaksin Shinawatra lên nắm quyền. Qua những luận án hoặc bài viết ở đưới các góc độ khác nhau, chân dung Thủ tướng Thaksin Shinawatra cũng như những ảnh hưởng của ông trong thời gian cầm quyền và sau khi chính quyền của ông bị lật đỗ được khắc họa tương đối rõ nét.
Phan ánh vai trò trong quan hệ đối ngoại của Thaksin qua bai viết: “Quan hệ Thái Lan - Trung Quốc dưới thời cầm quyền của Thủ tướng Thaksin Shinawatra (2001-9/2006)” (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 12 - 2011), Đinh Hữu Thiện đã trình bày vắn tắt về những chính sách ngoại giao lớn của Thaksin, đặc biệt là việc cải thiện mạnh mẽ mối quan hệ với Trung Quốc. Liên quan đến việc Thủ tướng Thaksin bị quân đội đảo chính lật đô, Văn Ngọc Thanh và Dam Thi Dao có bài phân tích “Cuộc đảo chính ngày 19 thang 9 năm 2006 ở Thái Lan” (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 01 - 2008). Các tác giả cho rằng, đảo chính bắt nguồn từ phong cách lãnh đạo của Thủ tướng Thaksin và đây đơn thuần chỉ là sự thay đôi ở một bộ phận thượng tầng kiến trúc và thé hiện “bước phát triển tiếp theo của nền dân chủ Thái Lan”. Căn nguyên của cuộc đảo chính cũng được tác giả Mạnh Kim phân tích một cách sâu sắc hơn trong bài 10 “Chính trường Thái Lan: Nồi súp de đã nỗi” (Tuổi trẻ cuối tuần, 23/9/2006).
Tác giả cho rằng Việc Thaksin bị lật đồ có nguyên nhân quan trọng từ các phi vụ làm ăn bat minh của ông trước và trong khi nắm quyền thủ tướng. Đó là phản ứng tat yếu một khi niềm tin bị lợi dụng vì nó dựa trên thủ đoạn mi dân và tham nhũng. Nghiên cứu về tác động của việc Thủ tướng Thaksin bị lật đồ và cuộc khủng hoảng chính trị tại Thái Lan diễn ra sau đó, trong bài viết “Tác động của khủng hoảng chính trị Thái Lan đến Việt Nam” (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4 - 2011), Nguyễn Ngọc Lan cho rằng cuộc khủng hoảng chính trị của Thái Lan có thé nói được bắt đầu từ một cuộc đảo chính do giới quân sự tiễn hành nhằm lật đồ cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra năm 2006, tiếp theo đó là những cuộc biểu tình, bạo loạn gay gắt giữa phe áo đỏ (phe ủng hộ Thaksin) và phe áo vàng (phe ủng hộ Hoàng gia) dưới thời Thủ tướng Abhisit Vejajiva. Tình hình chính trị bất ôn này đã gây tác động tiêu cực không chỉ đối với bản thân nước Thái mà còn có ảnh hưởng không nhỏ đến khu vực và các nước láng giéng, trong đó có Việt Nam.
Mặc dù vậy, những tác động này chỉ mang tính chất gián tiếp dưới dạng những bài học, kinh nghiệm quý báu để từ đó giúp chính phủ Việt Nam sáng suốt hơn trong việc lựa chọn những chính sách hợp lý, tương ứng với hoàn cảnh trong nước và xu hướng chung của khu vực và thế giới. Đề tổng hợp một thập kỷ đầy sôi động của nền chính trị Thái Lan đương đại, Nguyễn Phương Bình có bài “Chính trường Thái Lan thập niên đầu thé kỷ 21” (Tap chí Nghiên cứu Quốc tế Số 2 - 2010). Bài viết này tập trung phân tích sự nỗi lên và thời gian cầm quyền của Thủ tướng Thaksin Shinawatra, những chính sách lớn khi năm quyền ông đã ban hành cùng các hệ lụy kèm theo. Tác giả cũng đề cập tương đối chi tiết những biến động chính trị liên tiếp ké từ sau khi Thủ tướng Thaksin bị quân đội lật đồ và kết luận: Cuộc khủng hoảng chính trị ở Thái Lan vẫn chưa có hồi kết và đường như khó đi đến một giải pháp toàn diện vì những căn nguyên sâu xa từ lịch sử và từ chính hệ thống chính trị của quốc gia này.
Như vậy, mặc dù đã có nhiều công trình được các nhà khoa học trong nước công bố song chưa có công trình nào trình bày một cách toàn diện về nền chính trị Thái Lan, nhất là chính trị hiện đại với các nghiên cứu về hệ thống chính trị, đảng II phái, bầu cử hay các lực lượng chính trị. Nếu như nhìn Thái Lan trong bối cảnh một quốc gia láng giềng của Việt Nam cũng như trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam A (ASEAN) thì có thé thấy đây là một hạn chế cần phải được bổ sung hoàn chỉnh. Về kinh tế Thái Lan Đề tìm hiểu về nền chính trị của một quốc gia, không thé không nhắc đến các tài liệu nghiên cứu về con đường phát triển kinh tế của quốc gia đó cũng như những thực trạng, triển vọng và thách thức của nó. Những tai liệu này góp phan quan trọng dé minh định chính sách của các chính quyền cũng như những nhân tổ tương tác tới hoạt động của một hệ thống chính trị.
Kê từ cuối những năm 1980 cho đến năm 1997, con đường phát triển của Thái Lan trở thành đối tượng nghiên cứu thu hút sự quan tâm lớn của các học giả trong nước. Có thể thấy điều này qua các tác phâm: “Chính sách công nghiệp hóa của Thái Lan - những kinh nghiệm quý cho các nước đang phát triển” (1989) của Nguyễn Thu Mỹ; “Thái Lan: Cuộc hành trình tới câu lạc bộ các nước công nghiệp mới” (1992) của Nguyễn Thu Mỹ và Đặng Bích Hà; “Con đường phát triển của một số nước Châu Á, Thái Bình Dương” (1996) của Dương Phú Hiệp; “Kinh tế Thái Lan - một số chính sách công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu trong ba thập niên cuối thé kỷ 20” (2009) của Trương Duy Hòa. Những tác phẩm này đã đề cập tương đối toàn diện sự phát triển của nền kinh tế Thái Lan từ thập kỷ 1960, đặc biệt là khi quốc gia này chuyền đổi từ nền kinh tế công nghiệp hóa hướng nội - thay thế nhập khẩu sang nền kinh tế công nghiệp hóa hướng ngoại - hướng về xuất khẩu. Các tác giả đều có chung nhận định, trải qua một chặng đường dài và liên tục, nhờ tuân thủ đúng các kế hoạch phát triển kinh tế nên kinh tế Thái Lan vẫn tăng trưởng đều và cao bất chấp các biến động chính trị lớn, giúp Thái Lan có một diện mạo hoàn toàn mới trong khu vực và trở thành một nước công nghiệp mới trên thế giới.
Trong giai đoạn Thủ tướng Thaksin lên nắm quyền, các chính sách kinh tế của chính phủ cũng được học giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu. Có thé ké đến Luận án tiến sĩ kinh tế: “Chính sách phát triển kinh tế của Thái Lan dưới thời Thủ tướng Thaksin Shinawatra” của Nguyễn Ngọc Lan (Học viện Khoa học xã hội - 2013). Công trình này nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lựa chọn các 12 chính sách phát triển kinh tế của Thái Lan dưới thời Thủ tướng Thaksin Shinawatra.