CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 1. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính Vai trò thường là tính từ chỉ tính chất của sự vật, sự việc, hiện tượng, dùng để nói về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh và mối quan hệ nào đó. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân được xác định trong quan điểm, chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 08-NQ/TW [4] ngày 02-01-2002, Nghị Quyết 49/NQ-TW [5] ngày 02-6-2005 đã đặt ra đó là: “Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Tòa án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, đảm bảo sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án”. Được cụ thể hoá trong Hiến pháp, Luật Tổ chức VKSND thông qua các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói riêng.
Tại Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013 quy định: “ VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Đây là nhiệm vụ mà Hiến pháp quy định đối với ngành KSND trong hệ thống chính trị, hệ thống bộ máy nhà nước. Luật Tổ chức VKSND năm 2014, đã cụ thể hóa Điều 107 Hiến pháp về chức năng, nhiệm vụ của Ngành: “ VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
Tại Khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức VKSND quy định: “ Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, trong việc giải quyết vụ án hành chính ”. Theo từ điển Tiếng Việt, nhiệm vụ được hiểu là “Công việc phải làm vì một 5 mục đích và trong thời gian nhất định”. Như vậy, nhiệm vụ nói chung là công việc mang tính bắt buộc đối với một chủ thể phải thực hiện. Nhiệm vụ của một chủ thể xuất phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được pháp luật quy định.
Có thể thấy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và xuyên suốt mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân giao cho Viện kiểm sát nhân dân là bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ Nhân dân và chế độ. Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự là các cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống thống nhất, bao gồm VKSND tối cao, các VKSND địa phương, các Viện kiểm sát quân sự. VKSND do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng cấp trên; Viện trưởng VKSND các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao. Viện kiểm sát nhân dân cùng với các cơ quan tư pháp khác là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần bảo vệ công lý, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phạm vi công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính của Viện kiểm sát là bắt đầu từ khi Tòa án thông báo trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính hoặc từ khi Tòa án thông báo thụ lý vụ án hành chính đến khi bản án, quyết định giải quyết vụ án hành chính của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà không có kháng nghị, không có yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại theo quy định. Đối tượng kiểm sát của VKSND trong tố tụng hành chính là việc tuân theo pháp luật của Tòa án, người tiến hành tố tụng của Tòa án, người tham gia tố tụng và 6 cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Mục tiêu của hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính là bảo đảm việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật, qua đó, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Luật TTHC năm 2015 thì VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng hành chính cùng với Tòa án nhân dân.
Việc giữ nguyên quy định này là hợp lý bởi lẽ trong tố tụng hành chính, VKSND nhân danh quyền lực Nhà nước thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, cụ thể là kiểm sát tính hợp pháp về các quyết định và hành vi của người tiến hành tố tụng và hành vi của người tham gia tố tụng, bảo đảm mọi vi phạm pháp luật trong tố tụng hành chính phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh giúp cho việc giải quyết vụ án hành chính được đúng đắn và khách quan. Ngoài ra, theo Khoản 2 Điều 36 Luật TTHC năm 2015 quy định Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên là những người tiến hành tố tụng hành chính cùng với Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án. Như vậy, Luật TTHC năm 2015 đã bổ sung thêm Kiểm tra viên là người tiến hành tố tụng hành chính, thể hiện sự đồng bộ, phù hợp với quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và kế thừa các quy định trước đây “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật”. So với Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung các năm 1998, 2006, Luật TTHC 2010), vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng hành chính theo Luật TTHC 2015 có một số nội dung thay đổi, bổ sung đó là: Không quy định quyền khởi tố vụ án hành chính của Viện kiểm sát đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự; thay vào đó, Khoản 3 Điều 23 Luật TTHC quy định “Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, nếu họ không có người khởi kiện thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy 7 ban nhân dân cấp xã) nơi người đó cư trú cử người giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người đó”.
Đối với nhiệm vụ và quyền hạn của KSV, nếu như Điều 40 Luật TTHC năm 2010 trước đây chỉ quy định một cách chung chung thì Điều 43 Luật TTHC năm 2015 đã có sự liệt kê các nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng và chi tiết hơn. Theo đó, khi được Viện trưởng phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính đúng pháp luật, KSV có những nhiệm vụ, quyền hạn đó là: Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện; kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án; nghiên cứu hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại Khoản 6 Điều 84 của Luật này; tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án; kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; yêu cầu, kiến nghị Tòa án thực hiện hoạt động tố tụng; đề nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không chỉ phát biểu quan điểm của VKSND về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án mà còn phát biểu cả về nội dung, đường lối giải quyết vụ án đảm bảo giải quyết vụ án được nghiêm minh, chính xác, đúng quy định pháp luật. Với việc quy định cụ thể, chi tiết về nhiệm vụ và quyền hạn của KSV giúp cho họ thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.