Chương 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Vấn đề quản trị đại học Xu hướng toàn cầu hoá và phát triển mạnh mẽ nền kinh tế theo cơ chế thị trường đang là xu thế chủ đạo của nhiều nước trên thế giới hiện nay. Trước bối cảnh đó, với bất kỳ quốc gia nào thì GDĐH đều giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn tri thức nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội, tạo nền tảng bền vững cho sự phát triển mọi quốc gia.
Theo tác giả Phạm Thị Ly (2009) “Không có một nền kinh tế vững mạnh nào mà không có cột trụ vững chắc là giáo dục, và chưa từng có một quốc gia nào phó mặc cho giáo dục trở thành hàng hóa theo quy luật của kinh tế thị trường mà có thể thành công trong phát triển kinh tế”.[10] Trước những thách thức đặt ra như vậy, đòi hỏi GDĐH Việt Nam phải xây dựng các chiến lược về vi mô lẫn vĩ mô nhằm đổi mới cơ bản, toàn diện GDĐH như: đổi mới nội dung chương trình đào tạo; đổi mới công tác đào tạo, đổi mới công tác tuyển dụng và sử dụng đội ngũ nhà giáo, nhà quản lý; đổi mới toàn diện công tác quản lý Nhà nước về giáo dục ĐH theo hướng phân công, phân cấp triệt để trách nhiệm, quyền hạn quản lý Nhà nước về GD theo cơ chế thị trường nhưng luôn có sự kiểm soát của Nhà nước; v.v… Trong những vấn đề nêu trên, một vấn đề hết sức cơ bản được đặt ra và có tính cấp thiết hiện nay đó chính là đổi mới cơ cấu hệ thống tổ chức quản trị GDĐH. Ở mức độ nào đó, có thể nghiên cứu và vận dụng những kinh nghiệm từ các nước có nền giáo dục phát triển để xây dựng các mô hình QTĐH có hiệu quả, phù hợp với bối cảnh của GDĐH Việt Nam trong giai đoạn hội nhập hiện nay. Một phương diện khác cũng cần thiết phải quan tâm đó là xác định vai trò, vị 9 trí của các bên có liên quan trong QTĐH như: các học giả, sinh viên, phụ huynh, người sử dụng lao động, nhà nước, các tổ chức quản lý GDĐH, v.v…trong các mô hình QTĐH khác nhau. Bởi trong những yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của QTĐH thì yếu tố con người chính là nguồn lực cơ bản nhất, quan trọng nhất để cải tiến chất lượng đào tạo, cải tiến hoạt động quản lý nhà trường nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề khác nhau của QTĐH như: Anthony H. Dooley (2005) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của QTHĐ trong trường ĐH[27]; Dennis John Gayle và cộng sự (2003) đã khảo sát các cách tiếp cận đối với lãnh đạo hiệu quả và điều hành chiến lược trong trường ĐH thế kỷ 21[29]; Nhóm tác giả Ian Bache, Matthew V.Micky Berezi (2008) thực hiện một nghiên cứu về vai trò của HĐQT trong việc hình thành hoạt động QTĐH ở Vương Quốc Anh. Nghiên cứu nhằm mục tiêu khảo sát động lực tham gia quản trị và các nhận thức của các ủy viên HĐQT về những vai trò và nhiệm vụ của họ trong nỗ lực hình thành hệ thống quản trị và điều hành của các thiết chế quản trị trong bối cảnh cải cách GDĐH được đề xướng[23]; William L.Waugh (2000) bàn về xung đột giá trị và văn hóa như là một sự đe dọa đối với QTĐH[42]; Imanol Ordorika, Imanol Ordorika Sacristán (2003) mô tả từ một nghiên cứu trường hợp về sự tự chủ trong ĐH quốc gia Mexico[37]; Alberto Amaral và António Magalahães (2002) bàn về vai trò nổi bật của các thành viên liên quan ở bên ngoài trong QTĐH Châu Âu trong bối cảnh chịu áp lực của sự thay đổi. Vấn đề sinh viên trong quản trị đại học Với vấn đề về sinh viên trong QTĐH, hiện nay chưa nhiều các nghiên cứu một cách đầy đủ về các khía cạnh khác nhau của vấn đề.
Một số các nghiên cứu điển hình như: Xuất phát từ các lo ngại về việc cần thiết phải cải cách GD trong khi vẫn giữ lại những điểm mạnh đã được thừa nhận trong tổ chức GDĐH Canada đã dẫn đến một hành động chung của hiệp hội Giáo viên tại Canada. Theo đó, Hiệp hội Giáo viên ĐH Canada và Hiệp hội các trường ĐH-CĐ của Canada đã đề xuất nhà giáo dục người Anh là Sir James Duff, và một nhà GD, nhà khoa học chính trị người Hoa Kỳ là Robert O. Berdahl để nghiên cứu cấu trúc tổ chức và các quá trình hoạt động của các tổ chức GDĐH Canada. Báo cáo của Duff- Berdahl được phát hành vào năm 1966, đã đánh giá các mô hình trường ĐH hiện có của Canada và đề xuất một số thay đổi dựa trên việc xem xét lý thuyết, cùng những bằng chứng và kinh nghiệm từ thực tế.
Trong giai đoạn đầu của nghiên cứu này, ở Hoa Kỳ cũng như ở Canada chưa có những nỗ lực để sinh viên có được tiếng nói chung cũng như có được các vị trí thành viên trong Hội đồng các trường ĐH-CĐ. Không phải là điều đáng ngạc nhiên, vì trong giai đoạn này những nghiên cứu tập trung chú ý nhiều để tăng cường sự tham gia của giảng viên trong QTĐH hơn là vai trò của sinh viên. Nhưng có thể nhận thấy trong báo cáo trên, các tác giả cho thấy họ mong muốn xem xét vai trò của sinh sinh viên trong tương lai. Do vậy, các chủ đề về mối quan hệ của sinh viên với chính quyền các trường ĐH đã nhận được sự xem xét nghiêm túc sau đó.[41] Tiếp theo, những quan tâm về quan điểm chấp nhận hay phản đối sự tham gia của sinh viên vào QTĐH có trong nghiên cứu của Earl J.
Trong nghiên cứu này, tác giả trình bày về các lý do chấp nhận và phản đối sự tham gia của sinh viên trong QTĐH, xuất phát từ niềm tin rằng tương lai của sinh viên, chất lượng và điều kiện đời sống của mọi công dân 11 quốc gia Hoa Kỳ sẽ được xác định bởi phần lớn do GDĐH. Với cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc này, nên sinh viên và toàn xã hội đều có vai trò và lợi ích trong thể hiện bản sắc, cũng như trong đảm bảo chất lượng GDĐH. Cũng vì vậy, nó góp phần khẳng định rõ ràng quan điểm rằng sinh viên có quyền đóng góp tiếng nói chính thức trong việc hoạch định chiến lược, xác định những mục tiêu, các chính sách cũng như tổ chức điều hành các hoạt động trong các trường ĐH-CĐ. Lập luận này cũng bác bỏ giả thuyết cho rằng sinh viên còn hạn chế về trí tuệ, kiến thức và kinh nghiệm xã hội để đánh giá các chương trình giáo dục, các vấn đề khác của thể chế và do đó ảnh hưởng sâu sắc đến lợi ích và hạnh phúc cá nhân sinh viên.[36] Để nghiên cứu về phạm vi, quy trình và các ảnh hưởng của việc sinh viên tham gia trong QTĐH, bao gồm cả về thể chế sinh viên có nghiên cứu của Zuo Bing (1999), công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng sinh viên hoàn toàn có khả năng điều hành công việc, có thể đáp ứng được các nhu cầu khác nhau để bảo vệ các lợi ích chính trị của sinh viên.
Qua nghiên cứu, một thực tế đã chỉ ra rằng sinh viên được tham gia rộng rãi trong việc ra các quyết định học tập và hành chính trong trường ĐH ở các cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, theo tác giả Zuo Bing thì hiệp hội sinh viên là lực lượng có ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với sinh viên nói chung. Mặc dù sinh viên được tham gia vào QTĐH và họ được coi là bộ phận không thể thiếu trong QTĐH, nhưng nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các ĐBSV cần phải trao dồi để nâng cao năng lực cá nhân, nâng cao hiểu biết, kỹ năng cũng như kinh nghiệm ra quyết định và đồng thời cần thể hiện cam kết đối với sứ mệnh và lợi ích lâu dài của các trường ĐH.[24] Tác giả Thierry M Luescher (2008) nghiên cứu về xây dựng mô hình trường ĐH dân chủ, vấn đề cấp thiết được đặt ra đó là thay đổi trong QTĐH và đã nhận được sự quan tâm, tranh luận nhiều từ giới học thuật như: Sự gia tăng của phong cách hay còn gọi là nghệ thuật điều hành, quản lí (managerialism); Sự 12 tham gia của sinh viên trong quản trị trường ĐH. Đây chính là những vấn đề quan trọng trong các cuộc tranh luận học thuật trong giai đoạn này theo quan điểm về mô hình trường ĐH dân chủ.
Chủ đề chung của nghiên cứu này là sự tham gia của sinh viên trong hoạt động QTĐH. Vấn đề được đặt ra để cung cấp một quan điểm lý thuyết và thực nghiệm về sự tương tác giữa các trường ĐH dân chủ, và gia tăng sự ảnh hưởng của sinh viên đến các hoạt động quản lý, điều hành trong QTĐH.[34] Đồng tác giả Alf Lizzio, Keithia Wilson (2009) nghiên cứu những nhân tố thúc đẩy hay cản trở đối với hiệu quả hoạt động QTĐH của đại diện sinh viên với tư cách là thành viên trong HĐQT. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, các trường ĐH cần đảm bảo cách tiếp cận mang tính đột phá đối với vấn đề về phát triển sự đồng thuận của CBLĐ, CBQL đối với những đại biểu sinh viên. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã tìm hiểu những nguyện vọng của sinh viên đối với người quản lý khoa (quản lý trường), những khó khăn, thách thức đối với những người điều hành và cán bộ nhân viên khoa (trường) trong việc thu hút sinh viên tham gia vào các hoạt động quản trị của nhà trường.
[32] Ngoài những công trình nghiên cứu được giới thiệu trên, hiện nay ở nước ngoài còn có các nghiên cứu khác liên quan đến QTĐH. Trong đó, một số tác giả đã quan tâm đến sự tham gia vào QTĐH của các thành phần khác nhau trong các tổ chức trường ĐH, trong đó có đề cập đến vai trò của sinh viên như: Dennis John Gayle và cộng sự (2003) đi tìm hiểu cách tiếp cận để lãnh đạo hiệu quả và quản lý chiến lược trong các trường ĐH thế kỷ 21 bằng cách: xem xét các nhận thức, thái độ của các nhà lãnh đạo trường ĐH đối với các cấu trúc thể chế, văn hóa tổ chức để từ đó lãnh đạo và quản lý các trường ĐH. Sự khác biệt giữa quản trị các trường ĐH với quản trị các doanh nghiệp kinh doanh đã được phân tích một cách chi tiết, cụ thể. Đây cũng được coi là các loại năng lực lãnh đạo tốt nhất để giải quyết các thách thức và làm thế nào 13 để đạt được sự đồng thuận giữa các thành phần liên quan một cách cần thiết trong hoạt động quản trị.