PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Sau một năm 2007 tăng trưởng mạnh mẽ, liên tiếp trong 2 năm 2008 và 2009, Việt Nam đã phải điều chỉnh lại chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, rà soát và thay đổi hàng loạt các chính sách nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội. Mặc dù đà tăng trưởng của Việt Nam đã bị chậm lại trong năm 2009 tuy nhiên sau hơn 20 năm Đổi mới, vị thế và diện mạo của đất nước đã hoàn toàn thay đổi.
Tuy nhiên, phát triển là một quá trình đa diện và không dễ để điều hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, cho dù rất nhiều các quốc gia trên thế giới đã quen và đã áp dụng chiến lược phát triển bền vững. Sau Vedan, Miwon…sẽ còn không ít các công ty, tập đoàn khác có tên trong danh sách gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Rõ ràng, để có thể phát triển về kinh tế các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng cũng đã phải đánh đổi rất nhiều các nguồn tài nguyên thiên nhiên và chấp nhận một môi trường sống đang ngày càng bị ô nhiễm. Về khía cạnh không gian, các vấn đề về ô nhiễm môi trường thường gắn liền với các khu vực đô thị, tuy nhiên đó đã là một câu chuyện cũ bởi hiện nay khu vực nông thôn - lá phổi của quốc gia ở rất nhiều nơi cũng đã và đang bị ô nhiễm một cách nghiên trọng mà phần nhiều nguyên nhân trong số đó xuất phát từ sự gia tăng dân số, thay đổi các thói quen tiêu dùng và thói quen trong sản xuất.
Ở góc độ chính sách, trong những năm vừa qua số lượng các chính sách có liên quan tới lĩnh vực bảo vệ môi trường ngày càng nhiều, các quy định cũng ngày càng chặt chẽ và bám sát diễn biến của đời sống xã hội. Sự gia tăng nhanh chóng về mặt số lượng cũng như sự chặt chẽ các chính sách của Nhà nước liên quan tới lĩnh vực bảo vệ môi trường cho thấy hai vấn đề: (i) Nhà nước ngày càng quan tâm hơn tới các vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển và (ii) Các vấn đề về bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay ngày càng trở nên bức thiết. Dễ nhận thấy điểm chung trong các chính sách này đó là chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường của Nhà nước, có thể dẫn ra Chỉ thị 36-CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (ngày 25-6- 4 z 1998), Nghị quyết 41-NQ/TW nhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động bảo vệ môi trường hay Luật Bảo vệ Môi trường là những ví dụ điển hình. Ở góc độ cộng đồng, cách thức tổ chức xã hội của đô thị khác với nông thôn và sự khác biệt này một phần lớn là do sự mạnh yếu trong tính cố kết cộng đồng.
Đối với vấn đề ô nhiễm môi trường tại các đô thị ví dụ như rác thải thường có các công ty môi trường đô thị chịu trách nhiệm giải quyết, trong khi đó tại nông thôn vì nhiều lý do vấn đề này thường được mỗi người dân tự giải quyết theo những cách khác nhau hoặc được giải quyết bởi đội thu gom rác do cộng đồng tổ chức. Thực tế, tại nông thôn hiện nay ngoài vấn đề rác thải, môi trường nông thôn còn tồn tại rất nhiều các vấn đề bức xúc khác đòi hỏi cần những cách thức tổ chức quản lý và giải quyết các vấn đề môi trường của cộng đồng dưới dạng các quỹ môi trường cộng đồng. Ở tầm vĩ mô, Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam được thành lập năm 2003, với mục đích hoạt động hỗ trợ tài chính cho các chương trình, dự án, các hoạt động, nhiệm vụ bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước, tại một số địa phương cũng đã có các quỹ Bảo vệ Môi trường như ở Hà Nội. Ở khía cạnh vi mô, tại nhiều vùng nông thôn hiện nay các mô hình quỹ môi trường cộng đồng được xây dựng và vận hành chủ yếu là giải quyết các vấn đề môi trường đang tồn tại trong cộng đồng.
Tuỳ thuộc vào từng cộng đồng cũng như từng vấn đề môi trường cụ thể mà cách thức tổ chức, hoạt động của các mô hình này là khác nhau nhưng nhìn chung đặc trưng của các quỹ môi trường cộng đồng thường đơn giản về tổ chức quản lý và chủ yếu dựa và các đóng góp tài chính của cộng đồng với mục tiêu chính nhằm giải quyết vấn đề rác thải. Trong một vài năm tới, các mô hình này sẽ có xu hướng gia tăng bởi các vấn đề môi trường tại các vùng nông thôn cũng ngày càng lan rộng và phức tạp. Đồng thời, cơ cấu quản lý các mô hình quỹ môi trường cộng đồng cũng sẽ thay đổi từ đặc trưng tự cấp, tự túc sang cơ chế “khoán”. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn, những mặt tích cực và những tồn tại cũng như những khó khăn và thách thức của các quỹ môi trường cộng đồng đối với các hoạt động bảo vệ môi trường.
Do đó, hoạt động của các quỹ môi trường tại cộng 5 z đồng vẫn thường chỉ giới hạn cho từng cộng đồng chứ chưa có sự chia sẻ, học tập kinh nghiệm và nhân rộng điều này cũng đồng nghĩa vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng đối với các hoạt động bảo vệ môi trường chưa được thừa nhận một cách rộng rãi. Chính vì thế với đề tài: “Vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn hiện nay” hi vọng sẽ có những đánh giá cụ thể và chính xác về vai trò của các quỹ môi trường của cộng đồng hiện nay cũng như đưa ra được những khuyến nghị, giải pháp để hoàn thiện và nhân rộng mô hình quỹ môi trường cộng đồng tại các vùng nông thôn. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Đề tài được thực hiện sẽ góp phần làm sáng tỏ các lý thuyết xã hội học như lý thuyết cơ cấu chức năng, lý thuyết hành vi lựa chọn, lý thuyết hành động xã hội…đồng thời chỉ ra những bằng chứng thực tiễn để vận dụng có hiệu quả các lý thuyết và cách tiếp cận của xã hội học nông thôn, xã hội hội học môi trường, xã hội học quản lý….
Ý nghĩa thực tiễn. Các kết quả của đề tài sẽ góp phần cung cấp những bằng chứng thực tiễn, đánh giá chính xác vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn từ đó cung cấp những khuyến nghị để hoàn thiện mô hình của các quỹ môi trường cộng đồng và đề xuất các cơ chế nhân rộng mô hình. Thực tế đây là một mô hình đặc trưng điển hình của quá trình xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường tại cộng đồng cần được xem xét nhân rộng điều này không chỉ góp phần giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường tại khu vực nông thôn mà còn góp phần đáng kể trong việc nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.Mục đích nghiên cứu.
Mô tả vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn đồng thời chỉ ra được các giải pháp để hoàn thiện mô hình này cũng như các cơ chế để nhân rộng mô hình. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Phân tích thực trạng hoạt động, cơ chế quản lý các quỹ môi trường cộng đồng tại khu vực nông thôn hiện nay. - So sánh sự khác biệt về cách thức tổ chức quản lý, hiệu quả hoạt động của từng mô hình quỹ môi trường tại các địa phương.
- Đánh giá vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn hiện nay. - Đề xuất các giải pháp hoàn thiện về cơ chế quản lý, các thức tổ chức hoạt động các quỹ môi trường cộng đồng, kiến nghị các giải pháp để nhân rộng mô hình. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu.
Vai trò của quỹ môi trường cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn hiện nay. Khách thể nghiên cứu. Các quỹ môi trường cộng đồng tại Hà Nam và Bắc Giang. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: xã Tân Sơn (huyện Kim Bảng-tỉnh Hà Nam), xã Bích Sơn (huyện Việt Yên-tỉnh Bắc Giang).
- Phạm vi thời gian: tháng 7/2008-10/2009 1. Giả thuyết nghiên cứu - Các quỹ môi trường cộng đồng tuy có những đặc trưng khác nhau nhưng đều có cơ chế quản lý đơn giản. - Các quỹ môi trường cộng đồng đóng vai trò chủ đạo trong việc giải quyết các vấn đề môi trường tại cộng đồng đặc biệt là vấn đề rác thải. - Có sự khác biệt về cách thức tổ chức quản lý, hiệu quả hoạt động của các quỹ môi trường tại Hà Nam và Bắc Giang.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. Phương pháp luận. Chủ nghĩa duy vật biện chứng: Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng 7 z giúp cách nhìn nhận và đánh giá vấn đề - sự kiện xã hội trong mối quan hệ phổ biến, qua lại, biện chứng với các vấn đề -sự kiện khác. Trong đề tài này, chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở để chỉ ra vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng tại nông thôn đối với các hoạt động bảo vệ môi trường trong mối quan hệ với các đặc điểm kinh tế, xã hội, đặc trưng văn hoá…chính từ những đặc trưng này sẽ chỉ rõ sự khác biệt về vai trò và quá trình vận hành của từng quỹ môi trường cộng đồng tại Hà Nam và Bắc Giang.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử: Yếu tố lịch sử cụ thể là một căn cứ không thể thiếu để xác định một sự vật, hiện tượng trong đó đặc biệt là vấn đề không gian và thời gian. Thực tế, cùng một sự vật, hiện tượng nhưng trong những bối cảnh không gian và thời gian cụ thể khác nhau các giá trị, chuẩn mực để đánh giá sự vật, hiện tượng là khác nhau. Dưới góc độ của chủ nghĩa duy vật lịch sử những đặc trưng bản chất của quỹ môi trường cộng đồng tại Hà Nam và Bắc Giang sẽ bộc lộ những điểm tương đồng và sự khác biệt.