Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lương Thị Phương Quỳnh (chuyên ngành Phát triển Nông thôn, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2014) đặt trọng tâm vào vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong mô hình kinh tế hộ nông nghiệp.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng kinh tế hộ gia đình là một bộ phận không thể thiếu trong các thành phần kinh tế nông thôn Việt Nam. Phụ nữ chiếm gần 50% dân số nông thôn, trực tiếp tham gia vào hầu hết các công đoạn sản xuất nông nghiệp và đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ. Dù vậy, phụ nữ nông thôn nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng vẫn chịu nhiều thiệt thòi: địa vị xã hội chưa cao, việc làm và thu nhập bấp bênh, và những đóng góp kinh tế của họ chưa được cộng đồng thừa nhận tương xứng.

Địa bàn nghiên cứu được chọn là xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng – một xã nông nghiệp có truyền thống cách mạng, nơi có ba dân tộc Tày, Nùng và Kinh cùng sinh sống. Trong bối cảnh chuyển dịch kinh tế địa phương, phụ nữ dân tộc thiểu số tại đây đóng góp sức lao động lớn nhưng quyền lợi về kinh tế, văn hóa và xã hội vẫn chưa được quan tâm đầy đủ. Xuất phát từ thực trạng đó, đề tài tập trung giải quyết câu hỏi: Người phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Bế Triều đã đóng góp cụ thể ra sao cho kinh tế hộ, và cần những giải pháp nào để nâng cao vị thế, đời sống vật chất và tinh thần của họ?

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
    2. Đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình, qua đó phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Bế Triều trong thời gian qua.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của phụ nữ dân tộc trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Đối tượng khảo sát thực tế gồm phụ nữ dân tộc Tày, phụ nữ dân tộc Nùng và cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ tại xã Bế Triều.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào vai trò của phụ nữ dân tộc Tày và Nùng trong kinh tế hộ nông thôn, đặt trong mối tương quan so sánh giữa hai nhóm tộc người.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2011 – 2013; số liệu sơ cấp thu thập năm 2014; thời gian thực hiện nghiên cứu từ ngày 23/01/2014 đến ngày 24/05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm và khung lý thuyết giới trong phát triển nông thôn:

  • Khái niệm giới và giới tính: Phân biệt rõ yếu tố giới tính (đặc trưng sinh học, bẩm sinh, đồng nhất, không thay đổi) và giới (đặc trưng xã hội, do học tập và giáo dục, đa dạng và có thể thay đổi theo thời gian, không gian) theo các nghiên cứu của Trần Thị Quế (1999) và Nancy J.
  • Khái niệm hộ và kinh tế hộ: Tiếp cận định nghĩa hộ nông dân từ góc nhìn kinh tế học và xã hội học của Từ điển Webster (1990), Martin (1988), Raul (1989), Mege (1989), Frank Ellis (1988) và tài liệu giảng dạy của Đỗ Văn Viện - Đặng Văn Tiến (2006); khái niệm hộ gia đình theo Điều 107 Dự thảo Luật Dân sự.
  • Ba nhóm vai trò giới: Dẫn theo bài giảng của Nguyễn Thị Minh Hiền (Khoa Kinh tế & PTNT, Đại học Nông nghiệp Hà Nội), gồm: vai trò sản xuất (tạo thu nhập, quản lý sản xuất, trao đổi hàng hóa); vai trò tái sản xuất (sinh con, nuôi dạy con cái, tái tạo sức lao động gia đình); vai trò cộng đồng (gồm tham gia hoạt động cộng đồng và lãnh đạo cộng đồng).
  • Khung phân tích tiến trình tiếp cận giới: Phân tích sự chuyển dịch từ quan điểm "Phụ nữ trong phát triển" (WID - Women in Development ra đời thập niên 1970) sang "Phụ nữ và phát triển" (WAD - Women and Development), và tiếp cận "Giới và phát triển" (GAD - Gender and Development ra đời thập niên 1980, tập trung vào quan hệ quyền lực và sự bình đẳng thực chất giữa nam và nữ).
  • Văn bản pháp lý và tư tưởng chỉ đạo: Khóa luận viện dẫn Cương lĩnh năm 1930 của Đảng; các bản Hiến pháp 1946 (Điều 6, Điều 9), Hiến pháp 1954 (Điều 24), Hiến pháp 1959, 1980, 1992; Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 12/07/1993 của Bộ Chính trị; Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi 2002); Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg; Nghị quyết số 11/NQ-TW ngày 24/07/2007; Quyết định số 2531/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020.
  • Thực tiễn dự án hỗ trợ: Dự án LICEEM ("Lớp học chữ nâng cao năng lực phụ nữ dân tộc thiểu số") do tổ chức ADRA Úc tài trợ giai đoạn 2009 – 2012 tại tỉnh Cao Bằng (huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm, Hà Quảng), phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ địa phương tổ chức 40 lớp xóa mù cho 800 học viên.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng bốn phương pháp tiếp cận: tiếp cận giới, tiếp cận dân tộc, tiếp cận nhóm hộ và tiếp cận cấp xã.

Phương pháp thu thập dữ liệu:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của UBND xã Bế Triều, số liệu lưu trữ của Ban Địa chính xã giai đoạn 2011 – 2013, cùng các giáo trình, kỷ yếu nghiên cứu chuyên ngành.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Khảo sát mẫu quy mô $n = 50$ hộ gia đình (chia đều thành 25 hộ dân tộc Tày và 25 hộ dân tộc Nùng) bằng phiếu điều tra bảng hỏi cấu trúc; phỏng vấn sâu cá nhân chủ chốt (KIP) đối với cán bộ Hội Phụ nữ xã Bế Triều.

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Dữ liệu điều tra được tổng hợp, nhập liệu và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel; áp dụng phương pháp thống kê mô tả (tính tần suất, tỷ lệ phần trăm, số bình quân) và phương pháp thống kê so sánh (so sánh cơ cấu theo giới tính và theo thành phần dân tộc Tày - Nùng) dựa trên hệ thống chỉ tiêu phân ánh ba vai trò: sản xuất, tái sản xuất và tham gia cộng đồng.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu từ sự thiếu hụt trong nhìn nhận vai trò phụ nữ nông thôn, đặc biệt là phụ nữ đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi. Xác lập mục tiêu nghiên cứu tổng quát và hai mục tiêu cụ thể, làm rõ ý nghĩa rèn luyện học thuật của sinh viên chuyên ngành Phát triển Nông thôn và ý nghĩa thực tiễn đối với công tác bình đẳng giới tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này chia thành hai phần chính: cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn.

  • Phần lý thuyết hệ thống hóa các định nghĩa về giới, phân tích sự phát triển của các trường phái tiếp cận WID, WAD, GAD (theo Kabeer, 1994), làm rõ ba khía cạnh vai trò giới trong nông nghiệp; đồng thời trình bày các luận điểm cốt lõi của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, và các chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới.
  • Phần thực tiễn phân tích bối cảnh chung của phụ nữ dân tộc thiểu số cả nước, bài học từ dự án xóa mù chữ LICEEM của tổ chức ADRA tại Cao Bằng, cùng bức tranh tổng quan về đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội của hai tộc người Tày và Nùng (tập quán canh tác lúa nước, hoa màu, chăn nuôi, nghề dệt thổ cẩm, nghề rèn, nghi lễ gia đình, các điệu hát Lượn, hát Then, đàn Tính của người Tày và hát Sli, ẩm thực khau nhục của người Nùng).

Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày thiết kế nghiên cứu thực địa:

  • Xác định đối tượng khảo sát gồm 50 hộ gia đình Tày và Nùng tại xã Bế Triều cùng cán bộ đại diện Hội Phụ nữ xã;
  • Thiết lập khung nội dung gồm 4 phần: đặc điểm địa bàn, thực trạng vai trò phụ nữ, các yếu tố ảnh hưởng, và đề xuất định hướng giải pháp;
  • Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu gồm: nhóm chỉ tiêu vai trò sản xuất (tỷ lệ chủ hộ, quyền quyết định sản xuất kinh doanh, quyền tiếp cận nguồn lực); nhóm chỉ tiêu vai trò tái sản xuất (quyết định sinh con, giáo dục con, chia sẻ việc nhà); nhóm chỉ tiêu vai trò cộng đồng (tham gia sinh hoạt thôn bản, đoàn thể, chính quyền).

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Phần kết quả tập trung phân tích thực trạng tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Bế Triều và phân tích dữ liệu điều tra thực địa:

  • Bối cảnh xã Bế Triều: Diện tích tự nhiên 2.491,00 ha; cơ cấu đất nông nghiệp năm 2013 là 632,18 ha (25,38%), đất lâm nghiệp 1.504,19 ha (60,38%). Đất nông nghiệp bình quân/hộ giảm từ 1,67 ha (2011) xuống 1,47 ha (2013). Cây trồng chính gồm lúa (năm 2013 đạt diện tích 583,6 ha, sản lượng 2.845,9 tấn), ngô (130,5 ha, 595,8 tấn) và thuốc lá (71,2 ha, 143,8 tấn). Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2013 đạt 3.441,7 tấn (đạt 98,5% kế hoạch do giải phóng mặt bằng đường Hồ Chí Minh). Đàn trâu giảm từ 592 con (2011) xuống 506 con (2013) do cơ giới hóa dùng máy cày nhỏ; đàn lợn tăng đạt 3.411 con. Dân số năm 2013 có 5.776 người với 1.444 hộ (người Tày chiếm đa số với 4.744 người; người Nùng có 934 người; người Kinh có 96 người).
  • Sự tham gia lãnh đạo cơ sở: Toàn xã có 46 cương vị lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể thì chỉ có 10 cán bộ nữ là người dân tộc (chiếm 21,74%). Lãnh đạo UBND xã hoàn toàn không có nữ (0/3 người). Trưởng xóm nữ dân tộc chỉ có 2/21 xóm (9,52%).
  • Phân tích mẫu khảo sát 50 hộ: Nam làm chủ hộ chiếm 88% (44 hộ), nữ làm chủ hộ chiếm 12% (6 hộ, tập trung ở các hộ nghèo hoặc đơn thân). Học vấn phụ nữ tương đối đồng đều (60% học cấp III, 26% trung cấp - cao đẳng - đại học). Số con bình quân là 1,92 con/phụ nữ (Tày: 1,80; Nùng: 2,04).
  • Phân công lao động trong sản xuất trồng trọt: Dữ liệu định lượng cho thấy người vợ gánh vác các khâu nặng nhọc thủ công (100% việc gieo cấy do vợ thực hiện ở cả hai dân tộc; làm cỏ do vợ làm chiếm 80% ở người Tày và 84,21% ở người Nùng). Ngược lại, người chồng đảm nhiệm khâu cơ giới hóa (làm đất bằng máy cày) và giữ quyền quyết định mua sắm máy móc sản xuất (người Tày: 55%, người Nùng: 78,95%). Quyết định bán sản phẩm có tính chia sẻ cao ở cả hai tộc người (Tày: cả hai quyết định chiếm 65%; Nùng: cả hai quyết định chiếm 52,63%).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu làm rõ sự phân công lao động theo giới và quyền ra quyết định trong kinh tế nông hộ tại xã Bế Triều qua bảng tổng hợp số liệu khảo sát thực địa:

Chỉ tiêu phân công và ra quyết định Hộ dân tộc Tày (%) Hộ dân tộc Nùng (%)
Vợ Chồng Cả hai Vợ Chồng Cả hai
Quyền ra quyết định
Chọn giống cây trồng 25,00 30,00 45,00 42,11 42,11 15,78
Kỹ thuật canh tác 20,00 50,00 30,00 26,32 57,89 15,79
Mua công cụ sản xuất 10,00 55,00 35,00 5,26 78,95 15,79
Mua vật tư nông nghiệp 30,00 15,00 55,00 36,84 47,37 15,79
Bán sản phẩm nông nghiệp 25,00 10,00 65,00 21,05 26,32 52,63
Thực hiện công việc
Làm đất (cày bừa) 0,00 15,00 40,00 0,00 52,63 15,79
Gieo cấy 100,00 0,00 0,00 100,00 0,00 0,00
Bón phân 75,00 0,00 25,00 94,74 0,00 5,26
Làm cỏ 80,00 0,00 20,00 84,21 0,00 15,79
Phun thuốc trừ sâu 5,00 70,00 25,00 15,79 68,42 15,79
Thu hoạch mùa vụ 5,00 0,00 95,00 21,05 0,00 78,95

(Ghi chú: Khâu làm đất có 45% hộ Tày và 31,58% hộ Nùng thuê dịch vụ/người khác thực hiện)

Các phát hiện chính từ kết quả nghiên cứu:

  • Tồn tại sự phân hóa rõ nét về vai trò lao động trực tiếp: Người phụ nữ là lực lượng lao động chủ chốt ở các khâu thủ công, tốn nhiều thời gian và đòi hỏi sự tỉ mỉ như gieo cấy (100%), bón phân (75% - 94,74%), làm cỏ (80% - 84,21%). Người chồng chủ yếu đảm trách các khâu nặng nhọc, cơ giới hóa như làm đất (khi có máy cày) và phun thuốc trừ sâu (68,42% - 70%).
  • Khác biệt văn hóa tộc người trong việc ra quyết định: Các hộ gia đình dân tộc Tày thể hiện mức độ bàn bạc, thống nhất cao hơn giữa hai vợ chồng trong các quyết định mua vật tư (55%), chọn giống (45%) và bán sản phẩm (65%). Trong khi đó, ở các hộ gia đình dân tộc Nùng, vai trò quyết định của người chồng áp đảo rõ rệt đối với kỹ thuật canh tác (57,89%), mua công cụ sản xuất (78,95%) và mua vật tư (47,37%).
  • Sự hạn chế trong đại diện chính trị và quản lý xã hội: Dù chiếm 51,45% dân số toàn xã (2.972 nữ / 5.776 dân), tỷ lệ phụ nữ dân tộc tham gia lãnh đạo chính quyền cơ sở còn thấp (21,74% tổng vị trí lãnh đạo; 0% trong ban lãnh đạo UBND xã; 2/21 trưởng xóm là nữ dân tộc).
  • Định hướng giải pháp: Tác giả chỉ ra sự cần thiết phải nâng cao nhận thức bình đẳng giới của cấp ủy, chính quyền địa phương và của chính người phụ nữ; mở rộng các lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp phù hợp với thời gian biểu của lao động nữ; tăng cường tiếp cận vốn vay ưu đãi thông qua Hội Phụ nữ để hỗ trợ kinh tế hộ thoát nghèo; giảm tải gánh nặng việc nhà không tên nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ học tập và tham gia công tác xã hội.

Đóng góp của nghiên cứu: Khóa luận cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chi tiết về phân công lao động theo giới và cơ cấu quyền lực kinh tế nông hộ tại một địa bàn miền núi cụ thể của tỉnh Cao Bằng, làm rõ nét khác biệt văn hóa tộc người giữa dân tộc Tày và dân tộc Nùng trong việc chia sẻ vai trò kinh tế gia đình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian và quy mô mẫu: Nghiên cứu giới hạn trong địa bàn một xã thuần nông (xã Bế Triều) với quy mô mẫu khảo sát là 50 hộ gia đình (25 hộ Tày, 25 hộ Nùng), chưa phản ánh toàn diện bức tranh kinh tế - xã hội của phụ nữ dân tộc trên quy mô toàn huyện Hòa An hoặc tỉnh Cao Bằng.
  • Phạm vi thời gian và tính liên tục: Các dữ liệu thứ cấp chủ yếu tập trung trong 3 năm (2011 – 2013), thời gian khảo sát thực địa ngắn (từ tháng 01 đến tháng 05/2014), chưa theo dõi được biến động dài hạn của việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng đối với thời gian lao động của phụ nữ.
  • Phương pháp phân tích: Nghiên cứu chủ yếu sử dụng các công cụ thống kê mô tả và so sánh tỷ lệ phần trăm cơ bản trên bảng tính Excel, chưa vận dụng các mô hình kinh tế lượng hoặc kiểm định tương quan thống kê chuyên sâu.
  • Độ hoàn chỉnh của tài liệu: Phần văn bản khảo sát về vai trò chăn nuôi, tái sản xuất và cộng đồng chưa được thể hiện trọn vẹn ở chương 4 do giới hạn của tài liệu lưu trữ.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng quy mô điều tra đa địa bàn trên các xã vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn có thêm các tộc người thiểu số khác như Mông, Dao.
  • Ứng dụng các mô hình định lượng (như hồi quy Logistic hoặc OLS) để lượng hóa các yếu tố tác động đến khả năng ra quyết định tài chính của phụ nữ trong nông hộ.
  • Đi sâu nghiên cứu tác động của quá trình cơ giới hóa nông nghiệp và mở rộng đường giao thông đến quỹ thời gian và việc làm phi nông nghiệp của phụ nữ dân tộc thiểu số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển Nông thôn, Kinh tế Nông nghiệp, Xã hội học Nông thôn và Giới học: Cung cấp khung phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp điều tra nhóm hộ và phỏng vấn cán bộ cơ sở.
  • Cán bộ làm công tác Hội Liên hiệp Phụ nữ, cán bộ khuyến nông và chính quyền cơ sở tại các tỉnh miền núi phía Bắc: Tham khảo phương pháp xây dựng bảng hỏi thu thập thông tin phân công lao động theo giới và dữ liệu phản ánh khoảng cách giới tại vùng đồng bào Tày, Nùng.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Bảng tổng hợp số liệu so sánh phân công lao động và quyền ra quyết định trong trồng trọt giữa hai dân tộc Tày và Nùng (Bảng 4.9), cùng hệ thống chỉ tiêu tiếp cận vai trò giới từ cấp hộ gia đình đến cấp xã.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu hộ gia đình và cơ cấu phân bổ giữa các nhóm dân tộc ra sao?
Nghiên cứu tiến hành điều tra 50 hộ gia đình tại xã Bế Triều, chia đều thành 25 hộ dân tộc Tày và 25 hộ dân tộc Nùng. Cơ cấu kinh tế gồm 19 hộ khá - giàu (38%), 25 hộ trung bình (50%) và 6 hộ nghèo (12%). Về loại hình sản xuất, có 34 hộ thuần nông nghiệp (68%), 11 hộ phi nông nghiệp (22%) và 5 hộ kiêm (10%).

2. Điểm khác biệt lớn nhất về quyền ra quyết định sản xuất giữa phụ nữ dân tộc Tày và phụ nữ dân tộc Nùng là gì?
Gia đình người Tày có tính dân chủ và bàn bạc chung cao hơn: việc chọn giống cây trồng do cả hai vợ chồng quyết định chiếm 45%, mua vật tư nông nghiệp chiếm 55%, và bán sản phẩm chiếm 65%. Ngược lại, ở gia đình người Nùng, người chồng giữ quyền quyết định vượt trội trong các khâu kỹ thuật và đầu tư: quyết định mua công cụ sản xuất chiếm 78,95%, quyết định kỹ thuật canh tác chiếm 57,89% và quyết định mua vật tư chiếm 47,37%.

3. Khâu sản xuất nông nghiệp nào có sự phụ thuộc tuyệt đối vào lao động của người phụ nữ?
Trong khâu gieo cấy lúa và hoa màu, tỷ lệ người vợ trực tiếp thực hiện đạt 100% ở cả hai nhóm hộ dân tộc Tày và dân tộc Nùng, hoàn toàn không có sự tham gia của người chồng hoặc người khác.

4. Thực trạng phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia bộ máy lãnh đạo xã Bế Triều năm 2013 được ghi nhận như thế nào?
Trong tổng số 46 vị trí lãnh đạo Đảng, chính quyền và đoàn thể xã, chỉ có 10 cán bộ nữ là người dân tộc thiểu số, chiếm 21,74%. Đáng chú ý, ban lãnh đạo UBND xã có 0/3 lãnh đạo là nữ (0%), và trong 21 trưởng xóm chỉ có 2 trưởng xóm là nữ dân tộc (chiếm 9,52%).

5. Dự án phát triển quốc tế nào được tác giả viện dẫn liên quan đến nâng cao năng lực cho phụ nữ dân tộc tại Cao Bằng?
Tác giả viện dẫn Dự án LICEEM ("Lớp học chữ nâng cao năng lực phụ nữ dân tộc thiểu số") do tổ chức ADRA Úc tài trợ giai đoạn 2009 – 2012 tại ba huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm, Hà Quảng (tỉnh Cao Bằng). Dự án đã mở 40 lớp xóa mù cơ bản cho 800 phụ nữ và nam giới mù chữ, tổ chức 40 câu lạc bộ cấp xã và tập huấn nâng cao năng lực cho 150 lãnh đạo Hội Phụ nữ các cấp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lương Thị Phương Quỳnh đã phản ánh thực trạng phân công lao động và quyền lực ra quyết định kinh tế của phụ nữ dân tộc Tày và Nùng tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng năm 2014. Nghiên cứu chỉ ra sự bất tương xứng giữa khối lượng lao động thủ công lớn mà người phụ nữ nông thôn gánh vác so với quyền hạn ra quyết định sản xuất kỹ thuật và tỷ lệ đại diện thấp trong bộ máy quản lý công quyền tại cơ sở. Các phát hiện thực nghiệm nhấn mạnh sự cần thiết của việc lồng ghép giới vào chính sách khuyến nông, đào tạo nghề và nâng cao nhận thức cộng đồng nhằm phát huy tiềm năng kinh tế của phụ nữ dân tộc thiểu số.